Lưu trữ

Posts Tagged ‘Bộ Chính trị’

Chuẩn bị vật chất hậu cần cho chiến dịch tiến công chiến lược

Tháng Bảy 3, 2011 Phản hồi đã bị khóa

QĐND – Năm 1967, theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, một kế hoạch quân sự rộng lớn cho Đông – Xuân 1968 đã được Bộ Quốc phòng và Quân ủy Trung ương soạn thảo. Tháng 5-1967, Hội nghị Bộ Chính trị đã nghe báo cáo, sau đó thảo luận và thông qua kế hoạch tổng tiến công của các lực lượng chính quy và lực lượng tại chỗ kết hợp với nổi dậy của quần chúng nhân dân trên toàn miền Nam, đánh thẳng vào các đô thị, sào huyệt và các cơ quan đầu não của địch, nhằm tạo ra bước ngoặt chiến lược trong chiến tranh, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

Giờ Giao thừa Tết Mậu Thân 1968 (rạng ngày 31-1-1968), theo hiệu lệnh là bài thơ chúc Tết của Bác Hồ phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam, cuộc tổng tiến công và nổi dậy bắt đầu mà trọng điểm là 3 thành phố lớn: Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế. Tại Sài Gòn, quân ta đã đánh thẳng vào Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ, Bộ Tổng tham mưu, Đài Phát thanh và rất nhiều mục tiêu chiến lược khác… Đặc biệt, cuộc chiến đấu tại Huế diễn ra hết sức khốc liệt, với một lực lượng nhỏ hơn địch nhiều lần, quân dân ta đã chiến đấu trong cố đô 25 ngày đêm. Suốt 2 tháng đầu năm Mậu Thân 1968, trên toàn chiến trường miền Nam không lúc nào ngớt tiếng súng. Mục tiêu lớn của chiến dịch đã đạt được, ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, phá vỡ một mảng lớn hệ thống chính quyền của chúng, làm giảm ý chí chiến tranh của những kẻ hiếu chiến trong giới lãnh đạo Mỹ, buộc Mỹ phải ngừng đánh phá miền Bắc và ngồi vào bàn đàm phán tại Pa-ri. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 là tiền đề quan trọng cho thắng lợi hoàn toàn mùa Xuân năm 1975.

Bộ đội Đoàn 559 vận chuyển vật chất hậu cần cho chiến dịch. Ảnh tư liệu.

Trong nhiều sức mạnh tạo nên thắng lợi đó không thể không kể đến sức mạnh của công tác bảo đảm hậu cần chiến dịch. Với nhiệm vụ rất nặng nề, trong một thời gian gấp, mùa khô 1967-1968, công tác hậu cần phải thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận, vận chuyển vật chất, vũ khí trang bị, đạn dược bảo đảm cho các chiến trường gấp từ 2 đến 2,5 lần, bảo đảm sinh hoạt và vận chuyển quân vào chiến trường gấp 3 đến 4 lần năm trước.

Để hoàn thành nhiệm vụ Quân ủy giao, tập trung chuẩn bị hậu cần cho cuộc tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968, ngày 3-12-1967, hội nghị Đảng ủy Cục Hậu cần Miền xác định 3 nhiệm vụ trọng yếu. Đó là: Dốc toàn lực lượng, phương tiện để vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí trang bị đến các điểm cho bộ đội theo yêu cầu; bảo đảm đúng thời gian quy định. Tập trung làm tốt công tác nuôi quân, phòng bệnh, điều trị thương binh, bệnh binh khỏi bệnh đạt từ 70% đến 80%. Chuẩn bị điều chỉnh bệnh viện trên các tuyến để phục vụ kịp thời cho các trọng điểm và phát triển sau này. Ra sức chuẩn bị vật chất, nhất là lương thực, thực phẩm cho các đợt hoạt động tác chiến. Kết hợp chặt chẽ với địa phương, với các đơn vị để bảo đảm phục vụ cho bộ đội chủ lực.

Trên cơ sở nhiệm vụ được xác định, Cục Hậu cần Miền đã chỉ đạo và giao nhiệm vụ cho các lực lượng tổ chức thực hiện. Cụ thể: Cục Vận tải phải tạo chân hàng sớm, trước tháng 10-1967 phải có 60% tổng khối lượng tại khu hậu cứ của Đoàn 559. Cục Quản lý xe-máy phải hợp đồng thống nhất chỉ tiêu, bổ sung xe-máy mới, sửa chữa xe-máy hư hỏng trả về cho đơn vị đúng thời gian quy định. Các cục: Quân nhu, Quân y, Quân khí được giao chuẩn bị khối lượng hàng chi viện phải bảo đảm đủ, đúng thời gian, kịp thời sắp xếp vận chuyển vào hậu cứ Đoàn 559 theo thứ tự ưu tiên. Mặt khác, chỉ đạo Đoàn 559 trực tiếp tổ chức tiếp nhận vật chất, phương tiện. Kết quả trong mùa khô 1967-1968, Đoàn 559 được bổ sung: 1.382 xe ô tô, 19 xe ủi, 35 xe ben, 34 xe tải, 29 máy đẩy, 74 khẩu pháo cao xạ. Tính đến giữa tháng 10-1967, Đoàn 559 đã tiếp nhận hơn 80% vũ khí, phương tiện và nhân lực; bổ sung vật chất nhập tổng kho được 52% tổng khối lượng.

Để kịp thời bảo đảm cho chiến dịch, Bộ tư lệnh Đoàn 559 đã chủ trương mở chiến dịch “vượt khẩu”, nên chỉ trong 15 ngày, hơn 90% số vũ khí, phương tiện, vật chất đã vào tuyến gọn, đến các binh trạm an toàn. Chớp thời cơ thời tiết Trường Sơn khô ráo, trung tuần tháng 11-1967, Đoàn 559 đã mở đợt vận chuyển “đột kích” sử dụng 600 xe vận tải chở vũ khí chạy thẳng vào các chiến trường Khu 5, Tây Nguyên; 500 xe vào Trị-Thiên; 200 xe vào Nam Bộ. Bảo đảm vật chất đủ cho 15 vạn quân dồn dập vào chiến trường từ tháng 10 đến tháng 12. Chở thuốc nổ, khí tài và lương thực bổ sung cho các đơn vị công binh đang mở đường B71 đến ngã ba Bình Điền nối thông đường 12 vào Huế (dài 70km), hoàn thành trong 20 ngày đúng kế hoạch.

Kết quả công tác bảo đảm hậu cần cho chiến dịch Tết Mậu Thân 1968 đã để lại những bài học quan trọng cho công tác bảo đảm hậu cần các chiến dịch sau, là tiền đề quan trọng, bài học quý cho bảo đảm hậu cần chiến dịch Hồ Chí Minh. Đó là, phải quán triệt sâu sắc đường lối quân sự của Đảng, chỉ thị của Quân ủy Trung ương; xác định nhiệm vụ trọng tâm, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ; chủ động xây dựng kế hoạch, nắm bắt thời cơ tổ chức triển khai tích cực từ sớm, kết hợp vận chuyển từ hậu phương đến và xây dựng cơ sở hậu cần tại chỗ… Gần 45 năm đã qua, công tác bảo đảm hậu cần cho chiến dịch tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 vẫn còn nguyên giá trị, cần được tiếp tục nghiên cứu kế thừa trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Đại tá Đỗ Đắc Yên

qdnd.vn

Nghệ thuật chọn hướng, mục tiêu chủ yếu

Tháng Tư 10, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Chiến dịch Tây Nguyên tháng 3-1975

QĐND – Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết (ngày 27-1-1973), so sánh lực lượng ở miền Nam đã thay đổi căn bản, có lợi cho ta và bất lợi cho địch. Nắm thời cơ, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp từ 18-12-1974 đến 8-1-1975 hạ quyết tâm: Làm mọi công tác chuẩn bị, tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, tiêu diệt toàn bộ quân địch từ Trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân. Nếu thời cơ đến sớm thì giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, ta mở chiến dịch Tây Nguyên (từ 4-3 đến 24-3-1975). Thắng lợi của chiến dịch đã giải quyết thành công nhiều vấn đề về nghệ thuật quân sự, nổi bật là nghệ thuật chọn hướng và mục tiêu tiến công chủ yếu. Trong Chiến dịch Tây Nguyên, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định chọn Nam Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu và Buôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu. Đó là sự lựa chọn đúng đắn, sắc sảo về vận dụng không gian và phù hợp điều kiện thực tế chiến trường.

Bộ đội ta làm chủ các mục tiêu ở thị xã Buôn Ma Thuột ngày 11-3-1975. Ảnh tư liệu.

Trong toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch ở chiến trường Tây Nguyên khi đó, Nam Tây Nguyên nói chung, Buôn Ma Thuột nói riêng là vị trí hiểm yếu, nhưng lại tương đối yếu. Hiểm yếu vì đó là hậu phương chiến dịch, là thủ phủ và cũng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của địch ở Tây Nguyên, nằm sâu trong vùng địch kiểm soát, nối Đông Nam Bộ với Tây Nguyên và Sài Gòn, là cửa ngõ xuống Khánh Hòa-Nha Trang và tiến ra Plei-cu, Kon Tum. Mặt khác, so với Plei-cu và Kon Tum, lực lượng của địch ở Buôn Ma Thuột mỏng, yếu và bố trí có nhiều sơ hở, cô lập hơn. Cụ thể, địch tập trung ở Buôn Ma Thuột chỉ có 20% lực lượng, còn lại 80% ở Plei-cu. Địch cho rằng, ta không đánh Buôn Ma Thuột, vì chưa hội đủ điều kiện để đánh lớn, trước hết là không bảo đảm đủ hậu cần-kỹ thuật, nhất là chưa bảo đảm được việc cơ động cho xe tăng và pháo cơ giới vượt sông Sê-rê-pốc, nếu ta đánh thì đánh Kon Tum vì năm 1972, ta đã tiến công Kon Tum.

Địa hình ở Buôn Ma Thuột tương đối bằng, có nhiều đường lâm nghiệp, ven thị xã có nhiều khu rừng kín đáo trải dài trên một dải địa hình tương đối bằng có độ cao từ 420m đến 480m. Xung quanh thị xã, cách từ 2km đến 5km và từ 10km đến 15km có các điểm cao 596, Chư Bua, Chư Duê, Chư Blim, điểm cao 491… Các ấp dân và những thảm rừng thưa, rừng khộp không liên hoàn, xen kẽ các trảng tranh và sình lầy; sông suối rất ít và nhỏ. Thời tiết vào mùa khô, tiện cho cơ động và tác chiến hiệp đồng quân binh chủng, tiện cho các binh đoàn chiến dịch binh chủng hợp thành cơ động tiếp cận và triển khai đột phá địch trên nhiều hướng, đánh thẳng vào mục tiêu, khu vực phòng ngự then chốt, tạo thế áp đảo, phá vỡ thế trận địch, tiêu diệt các cụm quân chủ yếu trong thị xã, nhanh chóng giành được thắng lợi triệt để. Ngoại trừ sông Sê-rê-pốc cách thị xã khoảng 10km về phía Tây, hai bên bờ vách đá, nước chảy xiết, gây khó khăn cho việc trinh sát, tập kết vật chất, binh khí kỹ thuật và cơ động triển khai lực lượng. Địch ở đây bị cách trở các căn cứ phía Bắc Tây Nguyên và đồng bằng, khả năng ứng cứu và chi viện cho nhau bị hạn chế nhiều.

Buôn Ma Thuột là chiến trường quen thuộc, phù hợp với khả năng tác chiến của ta, chiếm được Buôn Ma Thuột, ta có điều kiện cơ động tiến công mở ra các hướng, phát triển thuận lợi vào chiều sâu phòng ngự của địch. Theo Đường 14 ra hướng Bắc, ta có thể uy hiếp thị xã Plei-cu, vào hướng Nam, ta có thể đánh chiếm Gia Nghĩa và tiến vào Đông Nam Bộ; theo tỉnh lộ 7B, ta có thể tiến công thị xã Cheo Reo và từ đó phát triển về Tuy Hòa; theo đường 21, ta có thể tiến xuống Nha Trang và Cam Ranh, “cắt đôi” miền Nam, điều mà Mỹ lo sợ nhất lúc bấy giờ. Như vậy, chọn Buôn Ma Thuột làm mục tiêu tiến công chủ yếu, ta đã điểm trúng “huyệt”, đánh đúng vào nơi hiểm yếu, khiến cho địch tan rã.

Thực tiễn chứng minh, sau khi ta làm chủ Buôn Ma Thuột, địch bị giáng đòn choáng váng, vội vã rút khỏi Plei-cu và Kon Tum, tạo ra một thời cơ lớn, một sự đột biến về chiến dịch, chiến lược, buộc địch phải thay đổi chiến lược rút bỏ Tây Nguyên về giữ các tỉnh ven biển miền Trung, tạo điều kiện cho ta đẩy cuộc tổng tiến công lên cao trào mới – cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam. Thắng lợi của trận Buôn Ma Thuột nói riêng, chiến dịch Tây Nguyên nói chung khẳng định sự lựa chọn hướng và mục tiêu tiến công chủ yếu đúng đắn, sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, góp phần tạo nên thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Nghệ thuật chọn hướng, xác định mục tiêu chủ yếu trong Chiến dịch Tây Nguyên tháng 3-1975 vẫn còn nguyên giá trị, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển cho phù hợp với điều kiện mới, vận dụng sáng tạo vào huấn luyện, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của bộ đội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đại tá Đào Văn Đệ

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.