Lưu trữ

Posts Tagged ‘Cam-pu-chia’

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu: Một thực tế lịch sử không thể phủ nhận

Tháng Một 5, 2012 Phản hồi đã bị khóa

Kỷ niệm ngày chiến thắng chế độ diệt chủng ở Cam-pu-chia (7-1-1979) và Năm hữu nghị Việt Nam – Cam-pu-chia 2012

QĐND - Nhân dịp kỷ niệm Ngày chiến thắng chế độ diệt chủng Pôn Pốt (7-1-1979) và Năm Hữu nghị Việt Nam – Cam-pu-chia 2012, nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu – người đã có hơn 11 năm công tác, chiến đấu, giúp đỡ nhân dân Cam-pu-chia đã dành thời gian trò chuyện với phóng viên Báo Quân đội nhân dân một số vấn đề xung quanh sự kiện này. Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu đến bạn đọc nội dung cuộc trò chuyện trên.

Phóng viên (PV): Kính thưa đồng chí, sự kiện ngày 7-1 gợi lại cho đồng chí điều gì nhớ nhất về nhân dân Cam-pu-chia?

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu: Trước hết, tôi phải khẳng định lại điều này: Ba nước Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia có lịch sử gắn bó rất lâu đời với nhau trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước của mỗi dân tộc. Trong chiều dài lịch sử ấy, nhân dân ba nước đã “chung lưng đấu cật” để xây dựng mỗi nước phát triển. Đặc biệt, trong nhiều giai đoạn lịch sử, ba dân tộc Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia đều có chung một kẻ thù xâm lược. Vị trí địa lý và lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của mỗi dân tộc đã gắn kết ba nước trở nên gần gũi, thân thiện. Theo đó, quá trình chiến đấu của mỗi nước phải dựa vào nhau để chống kẻ thù chung, bảo vệ dân tộc, bảo vệ đất nước. Vì vậy, nhân dân Cam-pu-chia đối với nhân dân Việt Nam, cũng như nhân dân Cam-pu-chia đối với Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam luôn sát cánh bên nhau chống lại kẻ thù chung vì độc lập của mỗi nước, vì hạnh phúc của nhân dân và mỗi dân tộc.

Đặc biệt, trong các cuộc kháng chiến trường chinh của dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam, QĐND Việt Nam luôn được nhân dân Cam-pu-chia ủng hộ, giúp đỡ với một sự giúp đỡ vô tư, trong sáng, hết mình. Sự giúp đỡ của nhân dân Cam-pu-chia cũng giống như nhân dân Lào giúp đỡ chúng ta trong kháng chiến là điều hết sức đáng quý, đáng trân trọng. Vì thế, nhân dân Việt Nam không bao giờ quên sự giúp đỡ của nhân dân Cam-pu-chia. Cũng như nhân dân Việt Nam không bao giờ quên sự giúp đỡ của nhân dân Lào. Đó là sự tiếp nối lịch sử truyền thống của ba dân tộc Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia. Tuy quá trình phát triển đất nước mỗi nước có đặc thù riêng, nhưng cái chung là khát vọng hòa bình và trong nhiều thời điểm có chung một kẻ thù xâm lược. Khi đã nói tới ba nước cùng chống kẻ thù chung thì không thể đặt vấn đề là ai giúp ai mà đó là trách nhiệm chung của nhân dân ba nước. Nhân dân Việt Nam giúp nhân dân Cam-pu-chia và ngược lại. Vì thế, khi QĐND Việt Nam chiến đấu, công tác trên đất Cam-pu-chia được nhân dân Cam-pu-chia coi như con em của mình. Tình cảm và sự giúp đỡ vô tư, trong sáng của nhân dân Cam-pu-chia đối với nhân dân Việt Nam, QĐND Việt Nam là điều không phải riêng tôi, mà tất cả những ai đã từng có thời gian ở Cam-pu-chia đều luôn ghi nhớ. Điều này không chỉ là sự ghi nhớ đơn thuần mà trong sâu thẳm còn là sự biết ơn nhân dân Cam-pu-chia.

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu

PV: Thưa đồng chí! Đã hơn 30 năm trôi qua, nhưng việc quân tình nguyện Việt Nam giúp đỡ nhân dân Cam-pu-chia lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt vẫn bị các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc. Vậy, theo đồng chí, sự kiện này được hiểu như thế nào cho đúng?

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu: Để có được cái nhìn đúng đắn, khách quan về sự kiện này, cần phải nhìn rộng hơn, xa hơn. Thực tế, trước ngày 17-4-1975, QĐND Việt Nam cũng đã giúp các lực lượng của Cam-pu-chia giải phóng đất nước, trong đó có cả Pôn Pốt. Thậm chí, lúc đó QĐND Việt Nam và các lực lượng giải phóng của Cam-pu-chia còn cùng ăn, cùng ở với nhau. Lý do để giải thích điều này như phần trên tôi đã đề cập. Phải khẳng định rằng: Đó là sự giúp đỡ hết sức vô tư, trong sáng của QĐND Việt Nam, của nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Cam-pu-chia vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân Cam-pu-chia. Thời điểm đó, nhân dân Cam-pu-chia đối với QĐND Việt Nam cũng chính như nhân dân Việt Nam đối với quân đội mình. Chúng tôi cũng ở trong nhà dân, sinh hoạt cùng nhân dân, lao động cùng nhân dân, được nhân dân che chở để đánh giặc cứu nước. Nhân dân Cam-pu-chia không chỉ giúp đỡ, nuôi dưỡng, ủng hộ, mà còn hy sinh tính mạng để bảo vệ QĐND Việt Nam, nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, sau ngày 17-4-1975, khi đã giành được chính quyền, thì tập đoàn Pôn Pốt trở mặt, ra tay sát hại chính đồng bào mình, nhân dân mình. Điều này lúc đầu chúng ta không thể hiểu nổi và cũng chưa bao giờ dự tính tới. Bởi chính nhân dân Cam-pu-chia là những người đã sát cánh cùng các lực lượng, trong đó có cả lực lượng của Pôn Pốt, không tiếc của cải, máu xương của mình đứng lên chống kẻ thù xâm lược, giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc. Đặc biệt, sau này khi QĐND Việt Nam theo lời gọi khẩn thiết của nhân dân Cam-pu-chia tiến công đánh đuổi Pôn Pốt, được chứng kiến những gì mà chúng gây ra cho chính nhân dân Cam-pu-chia thì hết sức ghê tởm và căm phẫn. Càng căm phẫn Pôn Pốt bao nhiêu, chúng tôi càng thương người dân Cam-pu-chia bấy nhiêu.

Tôi xin trở lại thời điểm ngày 17-4-1975 – ngày mà thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng. Sau ngày đó, nhân dân Cam-pu-chia đang hết sức vui mừng thì Pôn Pốt thực hiện chính sách đuổi nhân dân, giết hại đồng bào mình, lập trại lính. Đặc biệt, Pôn Pốt sử dụng các hình thức giết hại nhân dân Cam-pu-chia hết sức dã man. Tiếp đó, chúng mở cuộc tiến công xâm lược trên toàn tuyến biên giới Việt Nam. Trước tình hình đó, chúng ta không thể khoanh tay đứng nhìn kẻ thù xâm lược đất nước, giết hại đồng bào ta trên dọc tuyến biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia; đặc biệt càng không thể chấp nhận sự tàn sát dã man của Pôn Pốt đối với nhân dân Cam-pu-chia. Bởi vậy, chúng ta đã đáp trả bằng những trận phản công, đánh bật kẻ thù ra khỏi biên giới. Mặt khác, với tình cảm, trách nhiệm và những giá trị lịch sử đã được nhân dân hai nước vun đắp, tạo dựng nên trong suốt chặng đường dài, cùng lời đề nghị khẩn thiết của chính người dân Cam-pu-chia, QĐND Việt Nam đã tiến công tiêu diệt lực lượng Pôn Pốt đến sào huyệt cuối cùng. Việc làm đó không chỉ là hành động bảo vệ lãnh thổ của Tổ quốc chúng ta, mà còn là trách nhiệm của lương tri, là ý nguyện của người dân Cam-pu-chia và là hành động diệt trừ một mầm họa lớn cho nhân loại. Đó là một thực tế lịch sử không thể phủ nhận.

Sau chiến thắng 7-1-1979, nhân dân Cam-pu-chia thực sự được giải phóng. QĐND Việt Nam đã giúp đỡ nhân dân Cam-pu-chia xây dựng lại cuộc sống của mình. Một cuộc sống mới mà suốt những năm Pôn Pốt cầm quyền, họ chưa từng một ngày ăn ngon, ngủ yên. Tôi nêu một ví dụ này để minh chứng. Nhiều em bé vì đói, vì rét, vì bị thương đang kêu khóc thảm thiết, nhưng nếu nghe ai đó nhắc tới hai tiếng “Pôn Pốt” là nó im bặt. Nỗi khiếp đảm do Pôn Pốt gây ra không chỉ đối với người lớn mà còn hằn rõ trong bộ óc ngây thơ của các em nhỏ. Chúng tàn ác đến thế, sao mình lại không giúp nhân dân Cam-pu-chia trừ họa. Quả thật, trong điều kiện ấy, chỉ những ai không có lương tri; chỉ những ai không phải là “con người” mới thờ ơ khoanh tay đứng nhìn nhân dân Cam-pu-chia bị giết hại. Thật đáng xấu hổ cho những suy nghĩ bẩn thỉu và bần tiện đó.

PV: Đến nay, vẫn có ý kiến cho rằng: Thời điểm đó, chỉ cần chúng ta giúp Cam-pu-chia lật đổ chế độ Pôn Pốt là hoàn thành nghĩa vụ và không cần có một thời gian ở  lại Cam-pu-chia lâu đến thế. Vậy đồng chí có nhận xét gì về điều này?

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu: Nếu vẫn suy nghĩ như thế tôi cho rằng, đó là những người chỉ thấy được cái trước mắt, mà không nhìn ra cái lâu dài, cái căn bản. Ngày đó, đất nước Cam-pu-chia dưới chế độ do Pôn Pốt cai trị trở nên hết sức tan hoang, kiệt quệ về nhiều mặt. Thậm chí, khi chúng tôi có mặt ở Phnôm Pênh, nhân dân không còn một chiếc bát tử tế để dùng. Họ chủ yếu lấy vỏ quả dừa để làm bát. Đặc biệt, lực lượng cách mạng do Đảng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia lãnh đạo còn hết sức non trẻ. Nếu khi đó, QĐND Việt Nam rút về ngay thì thảm họa do Pôn Pốt trút xuống đầu người dân Cam-pu-chia còn tàn bạo hơn, dã man hơn trước đó. Đặc biệt, khi đó QĐND Việt Nam không chỉ tiếp tục giúp đỡ lực lượng cách mạng truy đuổi tàn quân Pôn Pốt, mà còn trực tiếp tham gia tổ chức lại cuộc sống cho nhân dân. Nhiều loại giống cây trồng, vật nuôi, thậm chí là những công cụ lao động thô sơ nhất như cái cuốc, cái cày, con trâu… đều được đưa từ Việt Nam sang để giúp bạn. Đó là lý do vì sao mãi tận năm 1989, chúng ta mới quyết định rút toàn bộ quân tình nguyện Việt Nam từ Cam-pu-chia về nước. Và kể từ ngày đó, mối đoàn kết, gắn bó giữa hai nước, nhân dân hai nước Việt Nam – Cam-pu-chia càng trở nên mật thiết. Mối đoàn kết gắn bó đó không phải ngẫu nhiên mà có, mà nó được xây đắp bằng những giá trị của lịch sử, bằng máu xương của nhân dân và quân đội hai nước. Một sự hợp tác toàn diện, thủy chung, vô tư, trong sáng vì mục tiêu cao cả: Sự phát triển phồn vinh của mỗi nước, vì hạnh phúc của nhân dân, vì lợi ích của mỗi dân tộc. Tôi cho rằng: Dù có nói bao nhiêu cũng không hết, viết bao nhiêu cũng không đủ, lịch sử phát triển của hai dân tộc, hai nước chính là bằng chứng sinh động, cho chúng ta câu trả lời xác thực nhất. Đúng như Thủ tướng Hun Xen đã khẳng định tại lễ khánh thành Khu di tích lịch sử địa điểm thành lập Đoàn 125 vừa qua: Đó là một phần lịch sử không thể lãng quên…

PV: Xin trân trọng cảm ơn đồng chí!
NGỌC LONG  DUY THÀNH (thực hiện)

qdnd.vn

Một phần lịch sử không thể lãng quên (*)

Tháng Một 3, 2012 Phản hồi đã bị khóa

(Diễn văn của Thủ tướng Cam-pu-chia Hun Xen tại Lễ khánh thành Khu di tích lịch sử địa điểm thành lập Đoàn 125)

Trước hết, tôi và Phu nhân cùng đoàn đại biểu Cam-pu-chia xin bày tỏ cảm ơn sâu sắc đối với Đảng, Chính phủ, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã đón tiếp trọng thị Phái đoàn Cam-pu-chia; đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Ngài Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng Phu nhân, Ngài Lê Đức Anh, Ngài Lê Khả Phiêu và các nhà lãnh đạo Việt Nam đã dành thời gian quý báu cùng chúng tôi tham gia buổi lễ kỷ niệm chiến thắng ngày 7 tháng 1 và tưởng niệm linh hồn các chiến sĩ Cam-pu-chia đã hy sinh vì sự nghiệp hồi sinh đất nước và nhân dân Cam-pu-chia với chiến thắng ngày 7-1-1979; đồng thời tham gia khánh thành Khu di tích lịch sử, nơi cư trú của những người Cam-pu-chia yêu nước và từ đây, khi điều kiện chín muồi, chúng tôi đã quay trở về đất nước Cam-pu-chia thân yêu, sát cánh bên nhau thành lập Lực lượng vũ trang đoàn kết cứu nước Cam-pu-chia, tiến tới thành lập Mặt trận đoàn kết cứu nước Cam-pu-chia ngày 2-12-1978 tại thị xã Xnuôn, tỉnh Kra-tie. Đây chính là lực lượng vũ trang của Mặt trận đoàn kết cứu nước Cam-pu-chia cùng Quân tình nguyện Việt Nam tấn công lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt ngày 7-1-1979, là nòng cốt của Đảng Nhân dân, Chính phủ và nhân dân Cam-pu-chia trong quá trình bảo vệ và phát triển đất nước Cam-pu-chia tươi đẹp cho đến hôm nay.

Tôi xin chân thành cảm ơn các cấp lãnh đạo thuộc Chính phủ Hoàng gia, Quốc hội, Thượng viện và quân đội Cam-pu-chia đã đến tham dự buổi lễ này và xin được thứ lỗi đối với các cấp lãnh đạo kể cả những người đã từng đặt chân tới đây và những người chưa từng đặt chân tới đây vì lý do bận công tác trong nước mà không đến tham dự buổi lễ này được.

Nhân dịp này, tôi cũng xin chân thành cảm ơn Đảng, Chính phủ, Quân đội, nhân dân Việt Nam, đặc biệt là Quân khu 7 và tỉnh Đồng Nai nói riêng đã giữ nguyên mảnh đất, nơi an nghỉ của 49 chiến sĩ Cam-pu-chia trong suốt hơn 33 năm qua mà chúng tôi chưa có điều kiện để đưa hài cốt các chiến sĩ này về nước vì chúng tôi chưa thể tìm lại được thân nhân của họ. Đồng thời, tôi cũng xin được nói lên lời cảm ơn về việc xây dựng đài tưởng niệm, một di sản lịch sử cho các thế hệ mai sau.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Hun Sen tại buổi lễ.
Ảnh: Đức Tám – TTXVN

Chỉ còn 5 ngày nữa thôi, nhân dân Cam-pu-chia sẽ long trọng tổ chức kỷ niệm 33 năm Ngày giải phóng đất nước thoát khỏi chế độ diệt chủng Pôn Pốt (7-1-1979/7-1-2012). Trước khi nói về ngày vui sau 33 năm đất nước Cam-pu-chia thoát khỏi chế độ diệt chủng, cho phép tôi được nhắc lại lịch sử hình thành Lực lượng vũ trang đoàn kết cứu nước Cam-pu-chia.

Trước hết, chúng ta cần khẳng định rằng, sau ngày 17-4-1975, một chế độ diệt chủng đã được hình thành trên cả nước, người dân Cam-pu-chia bị sát hại, bị lùa ra khỏi thành phố, khu dân cư, quyền công dân bị tước đoạt, một chế độ không trường học, không chợ búa, không dùng tiền, người dân bị cưỡng bức lao động, chung sống trong các công xã, hành vi tra tấn và sát hại người dân ngày càng nghiêm trọng hơn…

Trước tình hình đất nước và nhân dân Cam-pu-chia lâm vào thảm họa, bản thân tôi không có sự lựa chọn nào khác ngoài 2 sự lựa chọn là: Thứ nhất, đứng lên đấu tranh vũ trang chống lại chế độ Pôn Pốt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của tôi, lực lượng vũ trang này khoảng gần 2000 người, tấn công đánh chiếm huyện Mê-mốt, tỉnh Kam-pông Chàm và huyện Xnuôn, tỉnh Kra-tie để làm căn cứ đấu tranh vũ trang, nhưng tôi dự đoán sự lựa chọn này rất nguy hiểm, nếu có tình huống xảy ra khó có thể cứu vãn được, và cuộc nổi dậy này khó có thể cầm cự được trong vòng một tháng và sẽ bị Pôn Pốt dìm trong biển máu. Thứ hai, tôi phải ly khai chạy sang Việt Nam và đề nghị Việt Nam giúp đỡ tổ chức phong trào kháng chiến giải phóng đất nước vì khi đó tôi nhận được thông tin có một số người dân Cam-pu-chia đã chạy sang Việt Nam tị nạn. Lúc đó tôi nghĩ sự lựa chọn thứ hai này thật sự tốt hơn, nhưng vẫn có rủi ro, vì bọn Pôn Pốt cũng đã từng mở các cuộc tấn công vào một số khu vực của Việt Nam. Tôi luôn tự hỏi mình rằng, liệu mình có thể bị chết khi qua biên giới Cam-pu-chia – Việt Nam do giẫm phải mìn hoặc do đơn vị biên phòng Việt Nam hay không? Liệu mình có bị bắt giam do vượt biên trái phép hay không? Liệu Việt Nam có tin mình và đồng ý giúp mình không, trong khi Việt Nam vẫn đang quan hệ ngoại giao với Cam-pu-chia dân chủ? Và suy nghĩ cuối cùng của tôi là, liệu Việt Nam có thể bắt mình giao cho Pôn Pốt hay không? Để ứng phó với tình huống này tôi đã chuẩn bị sẵn trong người 12 cây kim và sẵn sàng tự sát nếu mình bị Việt Nam bắt giao cho Pôn Pốt.

Lúc 21 giờ, ngày 20-6-1977, tôi ra đi trong nước mắt và đau xót, tôi phải rời bỏ quê hương, rời xa người vợ thân yêu đang mang thai 5 tháng. Tôi bắt đầu đặt cược tính mạng của mình để tiến hành một cuộc đấu tranh. Khoảng 2 giờ ngày 21-6-1977, tôi cùng 4 cán bộ khác đã vượt biên giới sang Việt Nam và đến khoảng 14 giờ ngày 21-6-1977, chúng tôi đã vào đến ấp Hoa Lư, được nhân dân và du kích trong ấp đón tiếp. Sau khi hỏi thăm, người dân ấp Hoa Lư đã nấu cơm cho chúng tôi ăn, đây là lần đầu tiên sau nhiều năm chúng tôi mới được ăn cơm, vì ở Cam-pu-chia khẩu phần ăn hằng ngày của chúng tôi là cháo. Tối 21-6-1977, chúng tôi được đưa về huyện Lộc Ninh, sau đó chiều ngày 22-6-1977, chúng tôi được đưa về thị xã Sông Bé.

Thật sự, chúng tôi là những người vượt biên trái phép và lúc đó thực chất phía Việt Nam cũng chưa biết chúng tôi có ý định tốt hay xấu trong bối cảnh Pôn Pốt coi Việt Nam là kẻ thù số 1 và đã tấn công quân sự giết hại người dân Việt Nam, nhưng điều mà chúng tôi không ngờ đến là Việt Nam không coi chúng tôi là kẻ thù, chúng tôi không bị còng tay, không bị khám xét, không bị phân biệt hay có những lời nói đố kỵ đối với chúng tôi mà ngược lại chúng tôi được cung cấp lương thực, quân tư trang, thuốc lá, thuốc chữa bệnh… Mặc dù khác nhau về sắc tộc và bản thân chúng tôi là những người vượt biên trái phép, người dân Việt Nam cũng chưa biết chúng tôi là người tốt hay người xấu nhưng họ đã thể hiện tấm lòng nhân ái, tính nhân văn, tôn trọng nhân quyền. Tôi coi Việt Nam là một quốc gia kiểu mẫu, khác hẳn những gì mà bọn Pôn Pốt đã hành động, vượt biên bắt người dân Việt Nam làm ăn ở khu vực biên giới tra tấn, hỏi cung và sát hại.

Khi đó, phía Việt Nam chỉ muốn biết về thông tin tình hình chính trị, quân sự, kinh tế-xã hội Cam-pu-chia từ cơ sở đến Trung ương, và vấn đề này phù hợp với nguyện vọng của tôi. Tôi muốn cho cấp lãnh đạo Việt Nam biết được những hiểm họa đã và đang diễn ra tại Cam-pu-chia, đe dọa tính mạng của từng người dân Cam-pu-chia lương thiện và uy hiếp nghiêm trọng đến an ninh, chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam. Vì vậy, tôi rất hứng thú trong việc trả lời các câu hỏi theo cách thảo luận giữa tôi và các cấp lãnh đạo Việt Nam, vì tôi chỉ muốn cho cấp lãnh đạo Việt Nam hiểu về tình hình Cam-pu-chia, và tôi cho rằng, chỉ có Việt Nam mới có thể giúp được nhân dân Cam-pu-chia.

Qua nhiều lần trao đổi với cấp lãnh đạo quân sự gồm cả cấp tá, cấp tướng trong nhiều ngày, suốt đêm 8-7-1977, tôi trực tiếp viết tay 2 bản báo cáo gửi cho lãnh đạo Việt Nam, sau đó ngày 9-7-1977, tôi viết một bức thư nữa gửi lãnh đạo Việt Nam mà tôi nghĩ rằng phía Việt Nam có thể lưu giữ những tài liệu lịch sử này.

Những nỗ lực của tôi và các cộng sự thật không vô ích bởi vì lãnh đạo cấp cao của Việt Nam đã đọc được báo cáo và thư của tôi, rồi sau đó ngày 27-9-1977, tôi đã gặp trực tiếp Đại tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam – Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian 2 giờ 40 phút (từ 8 giờ đến 10 giờ 40 phút). Trong cuộc gặp này, ông đã nói với tôi rằng, ông đã đọc báo cáo và ý kiến của tôi. Cuộc gặp giữa tôi với Ngài Văn Tiến Dũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp của dân tộc Cam-pu-chia. Mặc dù chưa giải quyết được vấn đề cụ thể, nhưng ông ấy đã nói với tôi rằng, đồng chí còn rất trẻ, tương lai còn dài, hãy giữ bí mật, quan tâm theo dõi tình hình, học tập. Và cuối cùng ông nói là chúc đồng chí mạnh khỏe, hãy tin vào tương lai. Lời căn dặn và lời chúc của Ngài Văn Tiến Dũng đã mang lại cho tôi rất nhiều hy vọng, vấn đề còn lại là thời gian. Cấp lãnh đạo Việt Nam ngày càng hiểu rõ hành động tàn bạo của bọn Pôn Pốt trước những cuộc tấn công của chúng chống lại nhân dân Việt Nam, đặc biệt là tỉnh Tây Ninh, bọn chúng đã tàn sát và làm bị thương rất nhiều người. Các cuộc tấn công của bọn Pôn Pốt vào lãnh thổ Việt Nam ngày càng ác liệt hơn đã buộc Việt Nam phải phản công để tự vệ.

Tháng 12-1977, tôi có cơ hội thâm nhập vào huyện Mê-mốt để tìm vợ và con tôi nhưng thật không may là tôi không tìm thấy họ và cũng không biết họ còn sống hay đã chết. Dù không được gặp vợ con nhưng tôi đã gặp lại nhân dân và cũng đã đề nghị phía Việt Nam cho phép nhân dân Cam-pu-chia đang bị uy hiếp tính mạng sang Việt Nam tỵ nạn. Phía Việt Nam nhất trí theo đề nghị của tôi, số người Cam-pu-chia chạy sang Việt Nam lên tới hàng chục nghìn người, số này đa phần là người ở tỉnh Kam-pông Chàm, Prêy Veng, Xvay Riêng và đây chính là một nguồn lực để xây dựng lực lượng vũ trang sau này.

Vào khoảng tháng 12-1977 và tháng 1 và 2-1978 các bạn Việt Nam đã tạo điều kiện cho một số cán bộ chạy sang tị nạn ở Việt Nam được đến gặp gỡ và làm việc với tôi. Vào tháng 3-1978, một lần nữa tôi có điều kiện được trở về nước để nắm tình hình.

Những gì đã làm cho tôi xúc động đến rơi nước mắt đó là vào tháng 4-1978, tôi và Ngài Mê-a Huôn (Meas Houn) được gặp Thượng tướng Trần Văn Trà – Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7 Việt Nam tại Bộ tư lệnh Quân khu 7. Trong cuộc họp đó, Thượng tướng Trần Văn Trà đã nói với tôi và Ngài Mê-a Huôn rằng, cấp lãnh đạo Việt Nam quyết định sẽ giúp đỡ các đồng chí Cam-pu-chia tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang để giải phóng đất nước, Việt Nam sẽ giúp đỡ huấn huyện quân sự, cung cấp vũ khí và hậu cần còn vấn đề chỉ đạo về mặt chính trị là do phía các đồng chí Cam-pu-chia chịu trách nhiệm. Đây là câu trả lời mà tôi đã chờ đợi kể từ khi tôi đến Việt Nam bởi nó là đề nghị của tôi, của những người Cam-pu-chia đang tị nạn ở Việt Nam, cũng như là nguyện vọng tha thiết của toàn thể nhân dân Cam-pu-chia, cho phép nhân dân Cam-pu-chia được tị nạn ở Việt Nam, và tạo điều kiện cho các phong trào đấu tranh của những người đang tị nạn ở Việt Nam xây dựng và củng cố để tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng đất nước thoát khỏi chế độ Pôn Pốt.

Cơ hội vàng đã đến trong quá trình tiến tới giải phóng dân tộc nhưng gánh nặng đã đè lên vai người thanh niên đã mất một mắt chưa đầy 26 tuổi là tôi, Hun Xen.

Đây là công việc mới nhưng là thời cơ đối với chúng ta, dù nặng hay nhẹ cũng phải làm vì đất nước và nhân dân Cam-pu-chia. Chúng ta phải viết tài liệu dùng để giáo dục cho quân đội về chính trị tư tưởng, tổ chức kỷ luật… Bên cạnh sự cố gắng, nỗ lực của cán bộ, chiến sĩ chúng ta còn có sự hỗ trợ giúp đỡ từ phía bạn Việt Nam, nên một lực lượng vũ trang mang tên “Lực lượng vũ trang đoàn kết cứu nước Cam-pu-chia” đã chính thức ra đời ngày 12-5-1978 và thành lập Ban chỉ huy 578 vào tháng 5-1978 trong đó tôi, Hun Xen là Chỉ huy quân sự và chính trị, còn Ngài Núc Thon (Nuch Thon) làm Phó phụ trách chính trị, Ngài Hem Xa-min (Hem Samin) – Phó phụ trách hậu cần-tài chính, sau đó tiến tới thành lập đơn vị đầu tiên là đơn vị 125 (12-5-1978). Đơn vị này có hơn 200 chiến sĩ do Ngài Nhất Huôn (Nhat Houn) chỉ huy. Sau 1 tháng huấn luyện, đơn vị này được chia làm 2 bộ phận đó là: Một bộ phận tổ chức thành 12 đội tiến hành hoạt động vũ trang thâm nhập vào nội địa, mỗi tổ có từ 10 đến 15 người. Số còn lại được tập trung ở Long Giao để chuẩn bị quay về Cam-pu-chia thành lập các đơn vị mới khác. Sau đó, chúng ta thành lập Tiểu đoàn 246 (ngày 24-6) do Ngài Nhất Huôn làm chỉ huy, Tiểu đoàn 207 (20-7) do Ngài Uông Phon làm chỉ huy, tiểu đoàn 15 do ngài Núc Thon chỉ huy. Việc liên tiếp thành lập và sắp xếp thứ tự từ 01 đến 21 đó là 21 tiểu đoàn nam, 01 tiểu đoàn nữ và 100 đội hoạt động vũ trang ở xung quanh sở chỉ huy trong đó gồm cả bộ phận tham mưu, chính trị, một bộ phận hậu cần-tài chính, 1 đại đội đặc nhiệm, đại đội quân y và 1 đội văn nghệ.

Việc xây dựng lực lượng gấp rút như vậy gặp rất nhiều khó khăn về mặt nhân sự, như chỉ huy cấp trung đội, cấp đại đội, và cấp tiểu đoàn, cách thức để giải quyết vấn đề này không ngoài số sĩ quan và hạ sĩ quan của Cam-pu-chia đã được Bạn Việt Nam đào tạo giúp, bằng cách tập hợp số anh em này từ khắp mọi nơi về, cố gắng tuyển chọn số thanh niên mà trước đây đã được huấn luyện, thăng quân hàm sau đó điều về đơn vị mới cho giữ chức tiểu đội trưởng, trung đội trưởng và cử 202 cán bộ sang huấn luyện tại Trường hạ sĩ quan Bà Rịa/Việt Nam để sau này đề bạt họ lên giữ chức đại đội trưởng và tiểu đoàn trưởng. Riêng y bác sĩ chúng ta cũng đã cho mở trường y ngay tại trại ở Long Giao.

Cùng với thời điểm chúng ta đã, đang xây dựng lực lượng vũ trang tại đây, chuẩn bị các điều kiện và từng bước chuyển vào trong nội địa Cam-pu-chia thành lập lực lượng vũ trang tại biên giới Cam-pu-chia – Việt Nam, chúng ta nhận được tin vui về sự nổi dậy của quân đội và nhân dân ở khu Đông do Xam-đéc Hêng Xom-rin (Samdech Heng Samrin), Xam-đéc Chia Xim (Samdech Chea Sim) lãnh đạo đã tạo điều kiện cho lực lượng của chúng ta cùng phối hợp đánh chiếm huyện Mê-mốt, huyện Xnuôn và một số địa bàn khác thuộc các ấp, xã tiếp giáp biên giới Việt Nam từ tỉnh Kra-tie, Kam-pông Chàm, Prêy Veng, Svay Riêng và một số địa bàn khác thuộc các huyện của tỉnh Kam-pông Chàm từ giữa năm 1978.

Tình hình tiến triển nhanh chóng, nhưng chúng ta chỉ có quân đội, chưa có tổ chức về chính trị để lãnh đạo. Chính vì vậy, tôi khẩn thiết đề nghị phía bạn Việt Nam giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi được gặp Xam-đéc Hêng Xom-rin, Xam-đéc Chia Xim và cấp lãnh đạo của các phong trào đấu tranh khác nhằm thống nhất lực lượng và thành lập một tổ chức chính trị để lãnh đạo cuộc đấu tranh.

Chiều ngày 7-11-1978, Ngài Lê Đức Anh-Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7 là nhân vật đóng vai trò quan trọng nhất trong việc giúp xây dựng lực lượng vũ trang do tôi lãnh đạo, đã mời 7 người chúng tôi dùng cơm chiều tại TP Hồ Chí Minh, khi đó Ngài Lê Đức Anh có nói với chúng tôi rằng: Sáng mai (8-11-1978) tất cả các đồng chí sẽ gặp đồng chí Lê Đức Thọ – Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, đây là một tin vui cộng với thức ăn, rượu, thuốc lá rất ngon miệng. Ngay tối hôm đó tôi đã chuẩn bị điều kiện để thảo luận những việc cần làm trong thời gian tiếp theo.

Nguyên buổi sáng ngày 8-11-1978, cả 7 người trong Ban lãnh đạo của chúng tôi đã thảo luận trao đổi ý kiến thẳng thắn với đồng chí Lê Đức Thọ – một nhà chiến lược của Việt Nam và thông qua cuộc thảo luận tôi có thể khẳng định được rằng đất nước Cam-pu-chia sẽ được giải phóng trong thời gian sắp tới.

Ngày 22-11-1978, một sự kiện lịch sử đã diễn ra đó là cuộc gặp cấp lãnh đạo của 4 trong số 5 nhóm đấu tranh, nhóm của Ngài Sai Phu Thong, Tia Banh (Tea Banh) không ra lộ diện được do phải giữ bí mật vì lực lượng đang nằm ém ở nước ngoài. Kể từ đó, tôi cùng chung sống và làm việc với các nhà lãnh đạo khác, kể cả với Xam-đéc Hêng Xom-rin, Xam-đéc Chia Xim. Chúng tôi đã cùng nhau họp cả ngày lẫn đêm nhằm soạn thảo một Cương lĩnh chính trị của mặt trận với tên gọi là “Mặt trận đoàn kết cứu nước Cam-pu-chia”. Tên gọi này phù hợp với tên gọi “Lực lượng vũ trang đoàn kết cứu nước Cam-pu-chia”, như vậy rất thuận tiện cho chúng ta không cần phải đổi tên quân đội theo tên Mặt trận là tổ chức chính trị sắp được thành lập. Có 8 nhà lãnh đạo của 4 phong trào đấu tranh. Mỗi phong trào có 2 đại diện được phân công soạn thảo Cương lĩnh chính trị Mặt trận đoàn kết cứu nước Cam-pu-chia để được thông qua tại Đại hội Mặt trận diễn ra trong thời gian 4 ngày, từ 27 đến 30-11-1978 và cuối cùng chính thức ra mắt ngày 2-12-1978 tại vùng giải phóng thuộc huyện Xnuôn, tỉnh Kra-tie, sĩ quan nhận cờ từ Chủ tịch mặt trận Xam-đéc Hêng Xom-rin là tướng Kiên Xa-vút (Kiên Savuth), hiện là Phó tổng tư lệnh Quân đội Hoàng gia, khi đó là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2. Trong thời gian tiếp theo, được sự giúp đỡ của Quân tình nguyện Việt Nam, ngày 7-1-1979 Cam-pu-chia đã được giải phóng thoát khỏi chế độ diệt chủng Pôn Pốt. Trong khi đó, lực lượng quân đội được xây dựng tại đây đã hăng say tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu, xây dựng nhà nước, chính quyền địa phương, phong trào quần chúng và giải quyết đời sống cho nhân dân. Trải qua giai đoạn vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng vũ trang, lực lượng vũ trang chúng ta đã trưởng thành lớn mạnh, xây dựng thêm các đơn vị điều đến hầu hết các tỉnh trong cả nước, ngoại trừ tỉnh Kô Kông, Rát-ta-na-ki-ri và tỉnh Mun-đu-ki-ri vì những nơi này đã có quân đội do Ngài Sai Phu Thong, Ngài Tia Banh  lãnh đạo và lực lượng do Ngài Bun Mi, Ngài Bu Thong và Ngài Xê-uy Keo (Seuy Keo) lãnh đạo. thành phố Phnôm Pênh được tiếp nhận 4 tiểu đoàn, còn lại mỗi tỉnh nhận 1 tiểu đoàn, riêng tỉnh Kam-pông Chàm được tiếp nhận 2 tiểu đoàn vì đây là tỉnh lớn. Các tiểu đoàn này làm cơ sở để xây dựng lực lượng quân sự địa phương và các Sư đoàn chủ lực như Sư đoàn: 196, 286, 179, 04, 05 và 06… Đồng thời làm cơ sở để thành lập các quân binh chủng như: Hải quân, Lục quân, Không quân cũng như các đơn vị chuyên ngành khác như: Xe tăng, Pháo binh, Phòng không, Công binh, Hậu cần và Tài chính… và một số khác đã phục vụ công tác tại các cơ quan dân sự như Giáo dục, Tài chính, Nông nghiệp, Công nghiệp, Ngoại giao và một số khác trở thành Bộ trưởng, Thứ trưởng, Quốc vụ khanh, Phó quốc vụ khanh, Đại sứ, Hạ nghị sĩ, Thượng nghị sĩ, Tỉnh trưởng, Phó tỉnh trưởng, Thị trưởng, Phó thị trưởng và một số khác đang phục vụ trong hàng ngũ quân đội, vệ binh, công an quốc gia trong thời gian qua và hiện nay.

Tôi đã nói nhiều về việc thành lập lực lượng vũ trang đoàn kết cứu nước Cam-pu-chia là một phần của phong trào chung trong việc giải phóng đất nước khỏi chế độ Pôn Pốt, đây là một phần của lịch sử không thể lãng quên để nhắc nhở cho con cháu các thế hệ mai sau hiểu cả về lịch sử Cam-pu-chia và Việt Nam.

Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn trước Đảng, Chính phủ, Quân đội và nhân dân Việt Nam nói chung, tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn riêng đặc biệt tới Ngài Lê Đức Anh, Ngài Lê Khả Phiêu, Ngài Tám Quang, Ba Cung, Ba Hên, Châu Ba… cùng cấp lãnh đạo khác đã chia ngọt sẻ bùi giúp đỡ chúng tôi về mọi mặt để chúng tôi có được ngày hôm nay và đây cũng là hạt giống vô cùng quý giá đối với đất nước Cam-pu-chia trong suốt quãng thời gian hơn 33 năm qua. Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lời xin lỗi trước nhân dân Việt Nam sinh sống tại vùng này, vùng kia, nơi mà quân đội chúng tôi trú chân hoặc đi qua. Nếu như trong quá khứ họ có lỡ làm những điều sai trái với nhân dân, chúng tôi xin được thứ lỗi. Tất cả chúng tôi xin kính cẩn nghiêng mình trước anh linh các cán bộ, chiến sĩ Việt Nam đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu và xin được gửi lời hỏi thăm sức khỏe những người còn sống nhưng không thể tham gia buổi lễ này.

Tôi và Phu nhân cùng tất cả những người Cam-pu-chia tại đây xin kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của 49 chiến sĩ Cam-pu-chia đang yên nghỉ tại đây và các chiến sĩ vô danh khác đã anh dũng hy sinh tính mạng của mình vì sự nghiệp giải phóng đất nước. Chúng tôi xin ghi nhớ và xin hứa sẽ xây dựng đất nước ngày càng phồn thịnh hơn, cũng như vun đắp cho tình đoàn kết vĩ đại, sắt son Cam-pu-chia – Việt Nam và quyết ngăn chặn bóng tối trong quá khứ một lần nữa quay trở lại đất nước Cam-pu-chia.

Cuối cùng một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn Ngài Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng Phu nhân, Ngài Lê Đức Anh, Ngài Lê Khả Phiêu và các nhà lãnh đạo khác đã dành thời gian tham dự buổi lễ trọng thể này và tổ chức thành công buổi lễ này. Xin chúc mối quan hệ hữu nghị Cam-pu-chia – Việt Nam đời đời bền vững, kính chúc quý vị sức khỏe và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.

* Đầu đề của Báo Quân đội nhân dân

qdnd.vn

Bại tướng Dư Quốc Đống

Tháng Tư 10, 2011 Phản hồi đã bị khóa

QĐND – Trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ-Quân đội Sài Gòn, ngoài lực lượng chính là Quân đoàn l-Quân khu l, giới chóp bu Sài Gòn còn tăng cường hai lực lượng được xem là “thiện chiến” nhất trong quân lực Việt Nam cộng hòa là Sư đoàn Thủy quân Lục chiến và Sư đoàn dù. Tư lệnh Sư đoàn dù lúc đó là Trung tướng Dư Quốc Đống.

Dư Quốc Đống. Ảnh tư liệu

Dư Quốc Đống sinh năm 1932 tại tỉnh Rạch Giá. Y cầm súng theo thực dân Pháp từ khi còn rất trẻ. Tốt nghiệp Trường Sĩ quan Đà Lạt năm 1952, Đống được điều về Tiểu đoàn 4 Vệ binh Sơn cước đóng tại Plei-cu. Một năm sau, y tình nguyện xin về Tiểu đoàn 1 nhảy dù.

Con đường làm tay sai hết Pháp đến Mỹ của Dư Quốc Đống chủ yếu trong lực lượng “mũ nồi đỏ” khét tiếng gian ác từng gây nhiều tội ác đối với đồng bào ta. Từ năm 1953 đến cuối năm 1972, Đống lần lượt leo qua các chức Đại đội trưởng, Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn trưởng, Tư lệnh Lữ đoàn… đến Trung tướng, Tư lệnh Sư đoàn dù. Dư Quốc Đống từng tham gia chiến dịch tảo thanh lực lượng Bình Xuyên năm 1955, từng nhiều lần đụng độ với Quân Giải phóng trong trận Ia Đrăng, Tết Mậu Thân 1968, Đồi 1416 ở Đắc Tô, cuộc tiến quân sang Cam-pu-chia… và cuộc hành quân Lam Sơn 719 năm 1971.

Như vậy, cuộc đời binh nghiệp làm tay sai cho ngoại bang của Đống chủ yếu ở Sư đoàn dù, lực lượng “con cưng” của chính quyền Sài Gòn, được trang bị hiện đại, được quan thầy Mỹ tuyển chọn nhân sự và đào tạo bài bản, kỹ lưỡng. Vì có “thâm niên” nhất trong lực lượng, lại có vóc dáng cao lớn, thêm tính cách biết giữ chữ tín theo kiểu giang hồ nên y được cấp dưới vì nể. Nói một cách công bằng, Dư Quốc Đống được Pháp và Mỹ đào tạo cơ bản về chiến thuật của lực lượng dù, có kinh nghiệm trong hành quân tác chiến càn quét và đối phó với lực lượng Quân Giải phóng. Nhưng tại cuộc hành quân Lam Sơn 719, Sư đoàn dù do y chỉ huy đã bị Quân Giải phóng quần cho tơi tả.

Trong “Lệnh hành quân Lam Sơn 719” của Sư đoàn dù ký ngày 3-2-1971, Dư Quốc Đống ra lệnh cho thuộc cấp: “Nỗ lực chính trong cuộc hành quân hỗn hợp không lực theo trục DO, nhằm cắt đứt hệ thống tiếp vận của Công sản Bắc Việt, tìm diệt địch và phá hủy tối đa các quân dụng kho tàng của chúng trong căn cứ 604”. Hướng hành quân cũng được Đống chỉ rõ: “Xuất phát từ căn cứ Hàm Nghi, hành quân bộ theo dọc Đường 548 (Đường 9) và trực thăng vận xuất nhập các khu vực mục tiêu A Lưới, A Sầu, thiết lập các căn cứ hành quân và căn cứ hỏa lực, tổ chức hành quân tuần thám, lùng diệt địch, phá hủy các kho tàng trong khu vực trách nhiệm”.

Cuộc hành hành quân của Sư đoàn dù cũng được Đống chia làm 4 giai đoạn:

Giai đoạn l (Từ ngày 30-1 đến 7-2 năm 1971): Di chuyển toàn bộ sư đoàn nhảy dù và các đơn vị tăng phái đến phối trí xung quanh khu vực căn cứ Hàm Nghi.

Giai đoạn 2 (từ 8-2 đến 14-2): Sử dụng chiến đoàn đặc nhiệm làm nỗ lực chính, xuất phát từ Tà Bạt, tiến quân dọc theo Đường 548 (Đường 9) về phía tây, giao tiếp và hỗ trợ cho 1 tiểu đoàn nhảy dù trực thăng vận chiếm mục tiêu A Lưới (Bản Đông) và thiết lập căn cứ hỏa lực tại đây. Đồng thời Lữ đoàn 3 nhảy dù được trực thăng vận cấp tiểu đoàn chiếm các khu vực cao điểm 30-31 (điểm cao 450-543) phía bắc Đường 9 và thiết lập các căn cứ hỏa lực để hỗ trợ mặt Bắc cho cánh quân cơ giới, chiến đoàn đặc nhiệm.

Giai đoạn 3: Củng cố các căn cứ hành quân và căn cứ hỏa lực tổ chức hành quân lục soát, tiêu diệt lực lượng địch, khám phá và tiêu hủy tới mức tối đa các quân dụng cũng như kho tàng của địch trong phạm vi trách nhiệm.

Giai đoạn 4: Đoạn lệnh hành quân sẽ ban hành sau (sau này thành cuộc tháo chạy vội vã của Sư đoàn dù cũng như toàn bộ lực lượng địch tham chiến).

Tổ chức biên chế của Sư đoàn dù lúc này rất mạnh, gồm 9 tiểu đoàn thuộc 3 lữ đoàn dù, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh… đó là chưa kể các lực lượng của Quân đoàn 1 tăng cường cho Đống gồm Lữ đoàn 1 thiết kỵ, Tiểu đoàn 44 pháo binh (155mm) và tiểu đoàn 101 công binh chiến đấu.

Nhưng, cuộc hành quân hoang tưởng Lam Sơn 719 do quan thầy Mỹ sắp đặt bị thất bại thảm hại. Toàn bộ lực lượng của cái gọi là Cuộc hành quân Lam Sơn 719 trong đó có Sư đoàn dù của Dư Quốc Đống đã lọt vào trong thế trận giăng sẵn của quân và dân ta. Thất bại của chúng là điều không tránh khỏi.

Sáng 9-2-1971, 2 đại đội của chiến đoàn đặc nhiệm dù tại chốt 351 cầu Cha Kỳ bị Quân Giải phóng tiêu diệt. Cùng ngày, Tiểu đoàn dù 2 bị tập kích ở Xê Nam.

Từ ngày 11 đến ngày 13-2, Trung đoàn 64 thuộc Sư đoàn 320 Quân đội nhân dân Việt Nam liên tiếp tiến công khu vực điểm cao 456 và Đồi Không Tên, diệt 3 đại đội của Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn dù 6 (Lữ đoàn dù 3) chốt giữ căn cứ 31 (điểm cao 543), cách Bản Đông 7km về phía bắc.

Trưa 25-2, bằng trận tiến công hiệp đồng binh chủng, Trung đoàn 64 đã làm chủ căn cứ 31, tiêu diệt Tiểu đoàn 3 dù, bắt sống Đại tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 dù và toàn bộ ban tham mưu lữ đoàn.

Ngày 12 đến ngày 17-3, Quân Giải phóng đại phá Bản Đông do 1 lữ đoàn dù và 2 thiết đoàn quân đội Sài Gòn chốt giữ. Lữ đoàn dù 3 bị xóa sổ.

Ngày 18-3, do bị thất bại nặng nề, quân đội Sài Gòn rút khỏi Bản Đông. Cuộc rút quân trở thành một thảm bại hỗn loạn. Binh sĩ vứt bỏ vũ khí chạy cắt rừng hòng thoát thân nhưng cuối cùng trúng vào các ổ phục kích của Quân Giải phóng.

Cuộc hành quân Lam Sơn 719 là cuộc hành quân lớn nhất của Liên quân Mỹ-ngụy trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng, khi viết về cuộc đời cầm súng làm tay sai cho hết Pháp và Mỹ của Dư Quốc Đống, đám đàn em của y và thậm chí người cháu gọi Đống bằng cậu ruột là Trần Thái Văn hiện sống ở Ca-li-phoóc-ni-a (Mỹ) không một lời nhắc đến cuộc hành quân này. Đây là một trong những thất bại nặng nề nhất trong 26 năm khoác áo lính của Dư Quốc Đống mà thuộc hạ cũng như y muốn quên đi. Cũng có vài kẻ thân tín của y cho rằng, việc đặt Dư Quốc Đống và Lê Nguyên Khang, Trung tướng Tư lệnh Sư đoàn Thủy quân Lục chiến dưới quyền của Trung tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư lệnh Quân đoàn 1 – Vùng 1 chiến thuật là một sai lầm của Tổng thống Thiệu, vì hai viên tướng vốn ngổ ngáo lại quen được chiều chuộng rất coi thường Lãm. Bằng chứng là mặc dù toàn bộ Sư đoàn Thủy quân Lục chiến tham gia cuộc hành quân, nhưng Lê Nguyên Khang giao cho cấp phó chỉ huy, còn mình thì nằm chơi ở Sài Gòn… Sau này, mâu thuẫn giữa Đống và Lãm được bộc lộ trong kế hoạch phòng thủ Bản Đông. Chuyện đó có chăng cũng chỉ là một nguyên nhân nhỏ để bào chữa cho thất bại cay đắng của Đống và Sư đoàn Dù của y.

Trong hồi ký “Sư đoàn nhảy dù Việt Nam và cuộc hành quân Lam Sơn 719” của Trung tướng hồi hưu Giêm B.Vốt-tơ (James B.Vaught), nguyên Cố vấn trưởng Sư đoàn dù trong cuộc hành quân này cũng rất ít khi nhắc đến Đống. Sau khi ba hoa rằng mặc dù bị đối phương bao vây quyết liệt, nhưng cuối cùng nhờ tài cố vấn của mình, Sư đoàn dù đã “triệt thoái có quy củ khỏi đất Lào thành công”, Vốt-tơ chỉ nhắc Đống một chút, nguyên văn như sau: “Tướng Đống trong buổi họp tham mưu đã nói với toàn bộ các đơn vị trưởng trong Sư đoàn dù rằng, từ nay tôi được phép đề nghị các quyết định hành quân chiến thuật cần thiết và mọi người phải tuyệt đối thi hành. Và kể từ ngày đó tướng Đống không bao giờ phản đối bất cứ một đề nghị nào của tôi đưa ra…”.

Không biết Vốt-tơ khen hay… chửi Đống, xem vị tướng này như là bù nhìn dưới quyền điều hành của các cố vấn Mỹ.

Cuối năm 1972, Dư Quốc Đống rời chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn dù để thay Ngô Du làm Trưởng đoàn thương thuyết của Quân đội Sài Gòn trong Ủy ban liên hợp Quân sự bốn bên.

Tháng 11-1974, Dư Quốc Đống được Tổng thống Thiệu cử giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 3-Quân khu 3 bao gồm Sài Gòn và các tỉnh phụ cận. Sau đó 3 tháng, y phải từ chức khi để mất Phước Long vào tay Quân Giải phóng. Ngày 29-4-1975, khi chế độ Sài Gòn trong cơn hấp hối, Đống cùng gia đình vội vã rời khỏi Việt Nam sang tiếp tục sinh sống những ngày tàn cuối đời ở Mỹ. Ngày 22-4-2008, Dư Quốc Đống chết ở một Viện dưỡng lão ở Ca-li-phóoc-ni-a.

Khôi Nguyên (Theo báo chí nước ngoài)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.