Lưu trữ

Posts Tagged ‘Đường 9 Nam – Lào’

Sử dụng lực lượng phòng không tác chiến linh hoạt, hiệu quả (*)

Tháng Mười Hai 16, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào 1971

QĐND - Chiến dịch Đường 9-Nam Lào 1971 đã đánh dấu bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam, trong đó có nghệ thuật sử dụng lực lượng phòng không (LLPK) trong tác chiến chiến dịch. Trong chiến dịch này, LLPK có nhiệm vụ hiệp đồng chặt chẽ cùng các đơn vị binh chủng hợp thành ngăn chặn, tiêu diệt máy bay địch, bảo vệ các trận địa và đội hình ta, bảo vệ tuyến đường vận tải chiến lược Hồ Chí Minh.

LLPK tham gia chiến dịch là lực lượng nòng cốt đánh địch trên không. Trong quá trình phát triển của chiến dịch, LLPK được sử dụng từ đơn giản đến phức tạp, từ bảo vệ các phân đội bộ binh tiến công trên từng hướng, phát triển lên bảo vệ đội hình bộ đội binh chủng hợp thành trong không gian chiến dịch ngày càng lớn. Từ bảo vệ bộ đội trực tiếp chiến đấu, phát triển lên bảo vệ cả hậu phương, bảo vệ các trọng điểm giao thông chiến dịch và đã tạo điều kiện để phát triển quy mô chiến dịch binh chủng hợp thành ngày càng lớn, đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung trên các loại địa hình và thời tiết khác nhau; đánh địch cả ban ngày, ban đêm, cả trong tiến công và phòng ngự… Sự phát triển đó đã góp phần tạo nên sức mạnh để đẩy nhanh tốc độ, rút ngắn thời gian, nâng cao hiệu quả tác chiến chiến dịch.

Khẩu đội pháo phòng không Trung đoàn 241 tham gia Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào. Ảnh tư liệu).

Trong Chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào LLPK đã hoàn thành các nhiệm vụ và yêu cầu đề ra, góp phần vào sự phát triển của nghệ thuật sử dụng LLPK trong tác chiến chiến dịch. LLPK chiến dịch phán đoán đúng hướng tiến công của địch và tiến hành công tác chuẩn bị lực lượng sớm, chu đáo, toàn diện. Ta đã nghiên cứu, nắm tình hình hoạt động của địch trên không, LLPK của ta đã nắm quyền chủ động trên không gian chiến dịch. LLPK đã phát hiện những mâu thuẫn và khó khăn của địch, nhất là âm mưu, thủ đoạn tác chiến của chúng, ta đã phát hiện rõ sai lầm của địch trong việc đánh giá khả năng của LLPK ta và ta đã biết lợi dụng triệt để sai lầm của địch để chuẩn bị tiêu diệt chúng đúng thời cơ.

Sử dụng LLPK trong chiến dịch phải lấy việc bảo vệ mục tiêu, bảo vệ đội hình binh chủng hợp thành làm nhiệm vụ cơ bản nhất; tiêu diệt máy bay địch là một trong những biện pháp tích cực để bảo vệ mục tiêu. Lần đầu tiên trong Chiến dịch phản công Đường 9 – Nam Lào, ta đã chỉ đạo, sử dụng LLPK thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ bộ đội binh chủng hợp thành và tiến hành thành công các hình thức chiến thuật như chốt giữ và tiến công, bao vây đột phá để tiêu diệt các cụm quân có xe tăng, xe thiết giáp của địch, kết hợp chốt chặn lớn, cơ động tiêu diệt địch ở các điểm cao và truy kích địch rút chạy đạt hiệu suất chiến đấu cao.

Tập trung lực lượng hợp lý, bảo vệ các mục tiêu trọng điểm, trong các trận then chốt; kết hợp với các lực lượng đánh địch tại chỗ tạo nên hệ thống hỏa lực phòng không vừa tập trung, vừa rộng khắp trong địa bàn chiến dịch. Bằng việc tập trung LLPK hợp lý trong từng giai đoạn (từng đợt) chiến dịch, tập trung trên hướng chủ yếu, trong các trận then chốt, ở những mục tiêu trọng điểm của chiến dịch đã tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh bại các hoạt động tập trung đánh phá của không quân địch.

Cùng với sử dụng LLPK một cách hợp lý, nghệ thuật sử dụng LLPK trong Chiến dịch phản công Đường 9 – Nam Lào còn kết hợp chặt chẽ giữa sử dụng lực lượng tập trung với sử dụng phân tán để tạo nên lưới lửa phòng không rộng khắp, máy bay địch từ hướng nào vào cũng bị đánh. Chính bằng sự kết hợp chặt chẽ đó mà ta vừa bảo vệ được mục tiêu trọng điểm, vừa bảo vệ được lực lượng trên hướng tiến công chủ yếu, ở các khu vực mục tiêu quan trọng, vừa bảo vệ được các hướng, các mục tiêu khác và khi cần đã có lực lượng xen kẽ cài thế sẵn sàng giúp ta nhanh chóng chuyển hóa thế trận, chuyển hướng tiến công được mau lẹ. Để phát huy sức mạnh của LLPK trong chiến dịch, ta đã sử dụng tập trung LLPK trên hướng trọng điểm, chủ yếu và trong các trận then chốt chiến dịch.

Tác chiến với đội quân có lực lượng không quân mạnh, việc kết hợp chặt chẽ giữa hỏa lực tập trung có trọng điểm của LLPK với hỏa lực súng bộ binh của các đơn vị binh chủng hợp thành để đánh máy bay địch là một yêu cầu khách quan. Trong Chiến dịch phản công Đường 9 – Nam Lào ta sử dụng súng máy phòng không 12,7mm và 14,5mm đi cùng bộ binh, xe tăng “cơ động phục kích”, “vận động tiến công” đánh địch đổ bộ đường không, yểm hộ bộ binh ngăn chặn quân địch hành quân cơ giới và giữ các điểm cao quan trọng trong chiến dịch. Sử dụng lực lượng đánh tập trung hiệp đồng binh chủng: Phòng không, bộ binh, xe tăng, pháo binh đánh địch đổ bộ đường không bằng trực thăng là điểm nổi bật nhất trong Chiến dịch phản công Đường 9 – Nam Lào. Sự kết hợp khéo léo và chặt chẽ giữa hai lực lượng hỏa lực đã tạo được sức mạnh tổng hợp để vừa bẻ gãy các đợt tập kích của không quân địch, vừa tạo được lưới lửa phòng không rộng khắp trên không gian chiến dịch, đánh địch liên tục trong suốt quá trình chiến dịch và nhờ đó mà ta đủ mạnh để duy trì sự kết hợp tác chiến tập trung từng đợt với đánh địch liên tục; kết hợp tập trung lực lượng đánh địch có trọng điểm trên từng hướng, từng mục tiêu với đánh địch phân tán làm cho LLPK ta tuy ít “hóa” thành nhiều, nhỏ thành lớn, yếu thành mạnh để đánh thắng địch.

Chiến dịch phản công Đường 9 – Nam Lào năm 1971 – một chiến dịch điển hình về nghệ thuật sử dụng LLPK – là một chiến dịch phản công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn của bộ đội chủ lực cơ động, phối hợp chặt chẽ với lực lượng tại chỗ (B4, B5 và Đoàn 559). Chiến dịch được chuẩn bị chu đáo từ trước, diễn ra trên địa hình rừng núi, kế cận hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Thắng lợi của chiến dịch đã đánh dấu một bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam nói chung, nghệ thuật sử dụng LLPK nói riêng. Nó khởi đầu thời kỳ mới của sự phát triển hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, trên không gian chiến dịch rộng, nhiều mục tiêu cần bảo vệ, tính khẩn trương, ác liệt và tính cơ động cao, bảo đảm cơ sở vật chất nhiều, phức tạp. Đồng thời, cũng đánh dấu thời kỳ phát triển của LLPK về các hình thức tác chiến tập trung, hiệp đồng binh chủng, các biện pháp tác chiến, các hình thức chiến thuật. Thắng lợi của bộ đội phòng không trong chiến dịch có ý nghĩa chiến lược, ta đã bảo vệ được tuyến vận chuyển chiến lược thông suốt trong suốt quá trình chiến dịch; tạo điều kiện cho các đơn vị bạn phối hợp chiến đấu chặt chẽ giữa các chiến trường và đã góp phần bảo vệ vững chắc các mục tiêu trọng điểm, trong đó có miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

——–

(*) Trích tham luận tại Hội thảo khoa học “Chiến thắng Đường 9-Nam Lào 1971: Tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử”.

Trung tướng Võ Văn Tuấn, Phó tổng Tham mưu trưởng

qdnd.vn

Thông tin Trường Sơn với Đường 9-Nam Lào

Tháng Mười Một 30, 2011 Phản hồi đã bị khóa

QĐND - Năm 1965, đế quốc Mỹ thay đổi chiến lược chiến tranh cục bộ. Bộ Chính trị quyết định tăng khối lượng chi viện chiến trường. Tuyến đường Trường Sơn được đổi mới phương thức vận tải cơ giới từ nhỏ lẻ tiến lên tập trung từng cung đoạn.

Với kỹ thuật hiện đại, không quân Mỹ nhanh chóng phát hiện mục tiêu xe vận chuyển ban đêm liền huy động máy bay đánh quyết liệt, tạo thành các trọng điểm ngăn chặn. Năm 1965-1966, ta bị tổn thất 386 xe (47,3% tổng biên chế). Có đoàn xe hơn 100 chiếc từ hậu phương đi thẳng vào Binh trạm Ba biên giới chỉ còn 60 xe. Trước tình hình trên, Quân ủy Trung ương quyết định cử phái đoàn thị sát Trường Sơn do Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Đinh Đức Thiện và Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Phạm Ngọc Mậu lãnh đạo vào tuyến chi viện trước mùa khô. Phái đoàn trực tiếp đến các đơn vị tìm hiểu nguyên nhân không hoàn thành nhiệm vụ. Thiếu tá Nguyễn Ngọc – người chỉ huy đoàn xe được triệu tập để làm rõ nguyên nhân. Thiếu tá Ngọc thẳng thắn báo cáo:

- Là người chỉ huy đoàn xe mà để bị đánh cháy 45 chiếc, hy sinh 40 cán bộ, chiến sĩ, tôi xin chịu tội. Nhưng vì sao? Trước hết là từ khi vượt núi rừng Trường Sơn, đoàn xe không nhận được một thông tin cụ thể về tình hình đường sá, nhiều lần đoàn xe đến khu vực quy định nhưng đó lại là nơi địch đã thả bom các loại. Xe chúng tôi dò dẫm chạy vướng bom nổ chậm, bom bi, cả trung đội xe bị xóa sổ… Đau xót, cấp cứu nhau rồi vẫn đi tới… Mấy lần đoàn xe chạy vào vùng địch đã trinh sát, liền bị bom tọa độ trúng đội hình… Dọc đường không có trạm thông báo tin, chúng tôi không biết thế nào để xử trí nên liên tục bị địch đánh ngăn chặn… Anh em lái xe rất dũng cảm, mưu trí lắm mới giao xong hàng, quay về được đến đây…

Ngừng một lát, Thiếu tá Ngọc tiếp:

- Nghe nói các thủ trưởng sẽ kỷ luật, giáng cấp người chỉ huy đoàn xe. Tôi xin chấp nhận. Nói rồi đồng chí Ngọc tự tháo quân hàm Thiếu tá đặt lên bàn, nhấn giọng:

- Tôi không sợ chết, song tình hình tổ chức chỉ huy trên đường vẫn thế này, thì lần sau chắc tôi không còn đầu để về báo cáo thủ trưởng.

Chủ nhiệm Đinh Đức Thiện nổi tiếng nghiêm khắc, nhưng lần này lại rất trầm tĩnh. Ông cầm cặp quân hàm đưa trả Thiếu tá Nguyễn Ngọc và nói:

- Anh nhận lấy! Chưa ai có ý kỷ luật anh. Hãy bình tĩnh kiểm tra lại sự việc, cùng cơ quan tham mưu rút kinh nghiệm lãnh đạo chỉ huy để thắng địch chứ không phải để kỷ luật nhau.

Hoạt động của một trạm thông tin trên đường Trường Sơn trong kháng chiến chống Mỹ. Ảnh tư liệu.

Qua cuộc kiểm tra thế trận bố trí toàn tuyến và tinh thần công tác chiến đấu của bộ đội, phái đoàn công tác nhận thấy: “Trong tình hình địch đánh ác liệt thế, không một ai hoang mang lo sợ đã thể hiện rõ bản chất anh hùng của quân đội ta. Còn về tổ chức chỉ huy thì có vấn đề… Trên một chiến tuyến dài hơn nghìn cây số, hàng vạn người hoạt động, địch đánh như chém chả mà không có thông tin liên lạc đến từng đơn vị, từng đoạn đường thì làm sao không bị ách tắc. Lực lượng vận tải cơ động trên Trường Sơn trung tâm địch tiến hành chiến tranh ngăn chặn – chống ngăn chặn quyết liệt, lại không có thông tin chỉ huy thì chẳng khác gì người mù lạc trong rừng rậm”.

Phái đoàn đã báo cáo chính kiến của mình với Quân ủy, đề nghị Bộ khắc phục khuyết điểm này, phải cho tuyến vận tải Trường Sơn thành lập binh chủng thông tin đa phương thức. Triển khai ngay đường dây trần tải ba kết hợp nhiều phương tiện thông tin, hình thành hệ thống liên lạc vững chắc, bảo đảm chỉ huy trực tiếp trong mọi tình huống đối với từng đơn vị trên toàn tuyến.

Cơ quan Bộ chấp hành khẩn trương quyết định của Quân ủy Trung ương – sau ba tháng, các đơn vị lao động cật lực, mùa khô 1967-1968 hệ thống đường dây trần đã nối thông từ sở chỉ huy Đoàn 559 đến 15 binh trạm đi các hướng chiến trường. Nhờ có thông tin chỉ huy trực tiếp kịp thời xử lý khắc phục khó khăn, vận tải chi viện chiến trường tăng 120%, phục vụ đắc lực cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Vào những ngày quân giải phóng làm chủ thành phố Huế, tổng đài 3000 sở chỉ huy Bộ tư lệnh Đoàn 559 lên mạng tải ba vu hồi bảo đảm tốt cuộc đàm thoại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ Tổng hành dinh Hà Nội vào chiến trường, chỉ đạo trực tiếp Bộ tư lệnh Quân khu Trị Thiên.

Các binh trạm Trường Sơn do đã có thông tin dọc tuyến, cho phép áp dụng chiến thuật vận tải tập trung tiểu đoàn gọn theo hai chiều thuận tuyệt đối, tránh nhau ở giữa. Các tiểu đoàn xe được trang bị máy bộ đàm P105 để chỉ huy đội hình hành tiến. Các tiểu đoàn công binh, cao xạ, kho tàng, trạm điều chỉnh xe, chốt cảnh giới máy bay… đều có thông tin liên lạc hữu tuyến và vô tuyến sóng ngắn hỗ trợ, trực tiếp nhận lệnh hiệp đồng từ Sở chỉ huy binh trạm hoặc Bộ tư lệnh Đoàn 559.

Với hình thái tổ chức chỉ huy thích nghi hoàn cảnh, Binh đoàn Trường Sơn đã vượt qua mọi thủ đoạn ngăn chặn của giặc Mỹ, phục vụ đắc lực các chiến trường miền Nam và hai nước bạn kháng chiến thắng lợi ngày càng lớn. Đặc biệt mùa khô 1970, đường dây thông tin trực tuyến từ chiến trường yêu cầu chi viện khẩn cấp vũ khí hỏa lực. Bộ tư lệnh Trường Sơn liền cho đoàn xe chở vũ khí tốc hành vào Nam Bộ và đông bắc Miên… kịp thời đập tan cuộc tấn công của Mỹ-ngụy sang Cam-pu-chia.

Những năm 1970-1971, tuyến Trường Sơn lại được cải tiến thế trận vận tải chiến lược. Tổ chức 5 sư đoàn khu vực gồm 32 binh trạm, xây dựng hệ thống “đường kín” từ các cửa khẩu hậu phương lên tây Trường Sơn, chạy dọc tuyến tới các hướng chiến trường. Mạng thông tin củng cố hoàn chỉnh 950km đường dây trần, 200km đường dây cáp FFK60. Bố trí 11 trạm cơ vụ, 120 tổ canh dây duy trì liên lạc thường xuyên, kịp xử trí mọi sự cố. Tại các trạm cơ vụ đều lắp máy tăng âm, nhiều đường cao tần như: Cơ vụ B53 lắp máy 12 đường, cơ vụ AC2 lắp máy truyền dẫn 10 đường. Ở sở chỉ huy Bộ tư lệnh 559, Tổng đài 3000 bảo đảm cùng lúc 30 kênh hoạt động không bị nhiễu. Để hỗ trợ chất lượng thông tin, các khu vực còn lắp đặt hàng chục máy tiếp sức P401M, 10 xe điện đài vô tuyến cơ động, 100 máy vô tuyến 105, 109… Mạng thông tin đã thành “hệ thần kinh” của Đường Hồ Chí Minh huyền thoại tiến hành thắng lợi các cuộc tổng động binh toàn tuyến vận tải đạt khối lượng tăng gấp 6,5 lần so với năm 1967.

Sau khi bị thất bại trong cuộc tấn công Cam-pu-chia, đầu năm 1971 Mỹ-ngụy Sài Gòn lại mở cuộc “Hành quân Lam Sơn 719″ tấn công lên Đường 9-Nam Lào. Binh đoàn Trường Sơn sớm nhận được chủ trương của Bộ Tổng tư lệnh chuẩn bị cùng Binh đoàn 70 sẵn sàng cho chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào.

Trên địa bàn Đường 9-Nam Lào, hình thành 7 khu vực tác chiến có chính diện hơn 100km với tung thâm sâu. Bộ đội thông tin Trường Sơn chịu trách nhiệm phục vụ chỉ huy trực tiếp liên tục từ Bộ tư lệnh chiến dịch xuống từng đơn vị, từng trận địa tác chiến. Cùng thời gian, mạng thông tin vẫn phải giữ vững liên lạc của tuyến chi viện chiến lược đến các chiến trường phía Nam.

Đúng dự đoán, ngày 30-1-1971 Mỹ-ngụy mở cuộc hành binh lên Đường 9-Nam Lào. Lực lượng tăng, thiết giáp của địch vượt biên giới, cùng hàng đàn trực thăng đua nhau đổ quân xuống các cao điểm Nam-Bắc dọc Đường 9 lên Sê Pôn…. Tất cả những động thái của địch đều lọt vào tầm mắt các trạm quan sát của ta, kịp thời báo về sở chỉ huy chiến dịch. Bộ tư lệnh chỉ thị các trận địa hỏa lực kiên trì đợi thời điểm quyết định. Đúng “giờ G”, Bộ chỉ huy phát lệnh tấn công: “Bẻ gãy cánh Phượng hoàng bay, đập tan xác thiết xa vận”. Tổng đài 100 số với 30 kênh liên lạc tải ba dồn dập hoạt động, các đài tiếp sức đua nhau phát sóng. Ngay tức thời, hàng chục chiếc trực thăng địch bốc cháy. Đoàn tăng, thiết giáp đụng pháo binh, địa lôi bật tung, một số tháo chạy lao xuống sông cũng bị tiêu diệt.

Cánh quân Thái – Lào từ phía tây tiến xuống liền bị Sư 968, Sư 472 Bộ đội Trường Sơn phối hợp bộ đội Pa-thét Lào chặn đánh ngay khi mới chớm đến Thát Hài, Nậm Tiếng, Keng Coọc… khiến chúng phải tan tác tháo chạy… Chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào của ta đã làm tan vỡ hoàn toàn âm mưu “chiếm đóng ngăn chặn tận gốc Đường Hồ Chí Minh” của đế quốc Mỹ.

Tổng kết chiến thắng, Bộ tư lệnh chiến dịch đánh giá “Binh chủng thông tin Trường Sơn đã đóng góp công tích to lớn, thực hiện tốt bảo đảm hiệp đồng tác chiến các hướng ở phía trước và phía sau rất kịp thời”.

Cuộc tấn công Nam Lào bị thảm bại, Tổng thống Mỹ căm uất, ra lệnh sử dụng không quân oanh tạc hủy diệt Quốc lộ số 9, cắt ngang cuống họng hệ thống Đường Hồ Chí Minh xuyên Trường Sơn… Sư đoàn 472 phụ trách khu vực được chỉ thị phối hợp với Trung đoàn tên lửa chuẩn bị đập tan chiến dịch này của Mỹ. Bộ cũng thông báo: “Kẻ địch chưa biết ta có tên lửa SAM trên Trường Sơn”. Tại cuộc họp hiệp đồng, các đại biểu nhất trí cần phải tạo bất ngờ để thắng địch. Máy bay B.52 đi thế nào cũng kèm theo EB66 là loại được trang bị khí tài phát nhiễu công suất cường độ 3, có thể vô hiệu hóa các sóng ra-đa, phát hiện tên lửa và đẩy đạn tên lửa chệch khỏi mục tiêu. Ta cần phải giữ bí mật tuyệt đối, sư đoàn đặt các đài quan sát có kính viễn vọng nắm định từ xa. Tổng đài 4000 dùng máy tiếp sức P401M bổ trợ mạng thông tin tải ba, tăng hiệu suất thông báo kịp thời khi phi cơ địch còn cách hơn trăm ki-lô-mét.

8 giờ một ngày đầu tháng 2-1971, bầu trời Nam Lào trong xanh. Trạm T25 trên đỉnh Phu Ka Tê thông báo: “Có tiếng rù rù nặng trịch hướng tây nam”. Trên đỉnh Kopo, T26 báo: “Chín F4 bay qua dãy Phu Khốp tạt sang Phu Luổng đến Thác Hài…”. Máy phát sóng ra-đa tên lửa vẫn ắng lặng. T26, T27 thông báo liên tục: “Đoàn F4 vượt Phu Luồng tách làm hai, vòng thượng nguồn Sê Xăng Xoi và vòng hướng đỉnh Voi Mẹp rồi lao xuống Đường 9″… T25 báo: “Sáu F4 đảo lượn dọc Đường 9, cao xạ bắn dữ dội, F4 không bắn trả”. Đài chỉ huy biết nó giở thủ thuật nhứ dử nhằm phát hiện SAM… T28 báo: “Kính viễn vọng nhìn rõ hai máy bay cao ngất ngưởng như tòa nhà”…

Các trạm quan sát vùng trời báo tin tới tấp. Tổng đài cơ vụ 4000 mở cả 20 cửa hoạt động hết công suất bảo đảm thông tin liên lạc kịp thời về Sở chỉ huy và 7 trận địa tên lửa, cao xạ, chốt trọng điểm: “Đàn F4 đến vùng trời Saravan, Mường Phìn…”. “Hai con chồn hoang EB66B đang mở rộng vòng lượn”… “Đám F4 bốc lên cao…”. Đài chỉ huy tên lửa biết là nó không phát hiện dấu hiệu khả nghi có SAM. T28 báo cáo: “Tây Nam xuất hiện nhiều chấm đen to, như đàn nhặng”… Trung đoàn trưởng tên lửa vẫy tay: “Máy phát sóng sẵn sàng”. T26 báo: “Tây Nam 35 độ có bốn chấm đen bằng 1cm”. Trung đoàn trưởng lệnh: “Đài 1 kiểm tra!”. Nhờ các trạm quan sát định hướng chính xác, ra-đa bắt nhanh cả tốp mục tiêu nổi rõ trên màn hiện hình rồi tắt, báo cáo: “Đúng B.52″. Chỉ huy lệnh: “Đài 2 phát sóng!”. Trắc thủ quả quyết: “Ba B.52, một EB66C bay bên trái”. Trung đoàn trưởng nín thở, đanh giọng: “Phóng!”. Hai quả tên lửa lao vút, không bị vô hiệu hóa, bùng đỏ rực trời giữa “bầy nhặng”. Vô vàn tiếng nổ chát chúa khắp dải núi. Tiếng hò reo vang lừng: “Cháy rồi! Chết cha B.52 rồi!”… “Tên lửa muôn năm!”,… “Hoan hô thông tin Trường Sơn!”.

Đàn F4 tán loạn. Hai pháo đài bay thoát chết vội trút ào bom rồi ngoặt về hướng xuất phát. Một tốp phản lực bay ngang Đường 9 bị dính lưới lửa cao xạ, hai chiếc bốc cháy, giặc lái không kịp nhảy dù. Đòn tiêu diệt chiến này, ghi dấu Thông tin Trường Sơn đã tham gia trận đánh kết thúc cuộc chiến tranh ngăn chặn của giặc Mỹ trên Đường Hồ Chí Minh huyền thoại!.

NGUYỄN VIỆT PHƯƠNG

qdnd.vn

Hiệp định Paris đỉnh cao của nghệ thuật kết hợp đánh – đàm

Tháng Tư 10, 2011 Phản hồi đã bị khóa

QĐND Online- Thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Nam, buộc Mỹ chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Paris (Thủ đô nước Pháp). Cuộc đàm phán Paris về Việt Nam là một hội nghị dài nhất trong lịch sử đấu tranh ngoại giao thế giới (4 năm 8 tháng 14 ngày), đó thực sự là cuộc đấu trí vô cùng gay go, phức tạp, đầy kịch tính trên mặt trận ngoại giao, cuối cùng ta đã giành thắng lợi, góp phần quan trọng vào chiến thắng chung của toàn dân tộc. Đó cũng là Hội nghị thể hiện rõ nét nhất, hiệu quả nhất, thành công nhất của nghệ thuật kết hợp đánh – đàm dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng và nhân dân Hà Nội chào đón Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký kết Hiệp định Paris thắng lợi, về nước. Ảnh: TƯ LIỆU

Lãnh đạo toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc rằng: muốn chiến thắng một kẻ thù có tiềm lực kinh tế – quân sự mạnh như Mỹ, cần phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các mặt và kết hợp chặt chẽ giữa các hình thức đấu tranh. Trong gần 5 năm triển khai cục diện đánh – đàm, ngoại giao trở thành một mặt trận có vai trò chiến lược phối hợp chặt chẽ với đấu tranh quân sự và chính trị từng bước giành thắng lợi tạo bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến, cuối cùng đã kết thúc chiến tranh xâm lược của Mỹ bằng một hiệp định hoà bình.

Sự kết hợp đánh – đàm được Đảng ta triển khai từ năm 1967. Trong khi ta phát triển cả thế và lực, thì Mỹ ngày càng sa lầy và lún sâu trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Để giành thắng lợi ngày càng to lớn hơn nữa, Đảng chủ trương mở rộng mặt trận đấu tranh ngoại giao và thực hiện kết hợp chặt chẽ giữa các mặt đấu tranh.

Sau Tết Mậu Thân (1968), ý chí xâm lược của Mỹ bị lung lay, L. Giônxơn tuyên bố hạn chế ném bom miền Bắc và sẵn sàng nói chuyện với ta. Ngày 3-4-1968, ta tuyên bố sẵn sàng cử đại diện tiếp xúc với đại diện Mỹ để xác định điều kiện có thể nói chuyện. Tuyên bố trên đã thực sự mở đầu cuộc tiến công ngoại giao.

Phát huy thắng lợi trên chiến trường và nhân cơ hội cuộc chạy đua nước rút vào Nhà Trắng, trên mặt trận ngoại giao ta ép Mỹ ở hội nghị hai bên tại Paris. Sự kết hợp đánh – đàm đã mang lại kết quả ngày 31-10-1968, L. Giônxơn phải ra lệnh chấm dứt mọi hành động đánh phá miền Bắc để đi tới đàm phán bốn bên. Điều này đánh dấu xu thế không thể đảo ngược là thế và lực của ta ngày càng mạnh lên, Mỹ nguỵ ngày càng suy yếu và đi xuống.

Bước vào Hội nghị bốn bên ta tiến công bằng Giải pháp toàn bộ mười điểm, đòi Mỹ rút nhanh, rút hết quân khỏi Việt Nam mà không được đòi điều kiện gì. Tiếp đó, ta tiến công với tám điểm nói rõ thêm, ba điểm về ngừng bắn, đặc biệt là Lập trường bẩy điểm ngày 1-7-1971, ta gắn thời hạn rút hết quân với thả hết tù binh. Thiện chí của ta thể hiện trong những đề nghị và khẩu hiệu hoà bình đã tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới. Phong trào phản đối Mỹ leo thang, đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh phát triển mạnh mẽ trên thế giới nhất là phong trào phản chiến ngày càng lan rộng trên toàn nước Mỹ.
Thất bại nặng nề trên chiến trường và trước những đòn tấn công ngoại giao trên bàn đàm phán, từ tháng 7-1970 R. Nichxơn ra lệnh rút quân dần ra khỏi miền Nam nước ta. Điều này khẳng định sự thành công trong thực hiện nghệ thuật kết hợp đánh – đàm của ta. Đấu tranh ngoại giao không chỉ khuyếch trương thắng lợi trên chiến trường củng cố niềm tin cho nhân dân và bạn bè quốc tế, làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ mà còn hỗ trợ, che chắn cho chiến trường trong những thời điểm khó khăn (1969-1971). Khi quân Mỹ rút dần, nguỵ thất bại nặng nề trong cuộc hành quân “Lam Sơn 719” và Đường 9 Nam – Lào, còn lực lượng của ta được bảo toàn, không ngừng phát triển. Thắng lợi Xuân – Hè 1972 tạo bước ngoặt có tính chất quyết định về so sánh lực lượng trên chiến trường và quá trình đàm phán tại Hội nghị Paris.

Mặc dù, Mỹ từng bước “xuống thang” chiến tranh, song ý đồ thực dân mới của họ không hề thay đổi. R. Nichxơn cho rằng với tiềm lực kinh tế, quân sự to lớn của mình Mỹ đàm phán chỉ để thực hiện mục tiêu duy trì và củng cố chính quyền Thiệu làm công cụ thực hiện âm mưu thực dân mới của Mỹ. Thực hiện mưu đồ đó Mỹ sử dụng chiêu bài “đàm phán không điều kiện” và các thủ đoạn ngoại giao như “ngừng bắn”, “ngừng bắn tại chỗ”, “ngừng bắn toàn Đông Dương”, “hai bên cùng xuống thang chiến tranh”, “hai bên cùng rút quân”… Mỹ thực hiện chính sách đàm phán trên thế mạnh, vừa đàm phán vừa đe doạ. Mặc dù vậy, Mỹ không đánh lừa được ta mà còn bị ta vạch trần trên bàn đàm phán và trước dư luận quốc tế. Ta luôn vững vàng, tích cực chủ động trong đàm phán nên đã đối phó thắng lợi với những thủ đoạn ngoại giao tinh vi, xảo quyệt của Mỹ.

Cuối năm 1971, ta giành thắng lợi quan trọng trên mặt trận quân sự, buộc Mỹ phải từ bỏ yêu sách đòi ta phải rút quân khỏi miền Nam. Nguyên tắc nhất quán trong đàm phán với Mỹ tại Hội nghị Paris của ta là “quân Mỹ rút ra, quân ta ở lại”. Đây là điểm mấu chốt, quan trọng nhất trong đàm phán đã được khai thông, ta dùng sách lược tạm thời không đòi loại bỏ chính quyền Thiệu. Vì thế nhanh chóng đi đến thoả thuận ngày 20-10-1972 và ký Hiệp định Paris ngày 27-1-1973, sau khi Mỹ thất bại nặng nề trong trận “Điện Biên Phủ” trên không cuối tháng 12-1972. Thực tế, Mỹ chỉ chịu ký Hiệp định sau khi không lập lại được thế mạnh và thất bại nặng nề trên mặt trận quân sự.

Hiệp định Paris được ký kết là đỉnh cao của nghệ thuật kết hợp nhịp nhàng có hiệu quả giữa đánh – đàm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam. Đó là thắng lợi quyết định tạo điều kiện thuận lợi cho hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc vào ngày 30-4-1975. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Bạo

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.