Lưu trữ

Posts Tagged ‘Kháng chiến chống Mỹ’

Quảng Trị – Thừa Thiên năm 1972: Cuộc đụng đầu lịch sử (Tiếp theo và hết)

Tháng Mười Một 21, 2013 Phản hồi đã bị khóa

Kỳ 5: Trận then chốt quyết định

QĐND - Chiếm được thị xã Quảng Trị nhưng quân ngụy cũng bị tổn thất nặng nề. 26.000 quân ngụy Sài Gòn bị loại khỏi vòng chiến đấu, 349 xe quân sự trong đó có 200 xe tăng, xe bọc thép bị phá hủy, 205 máy bay bị bắn rơi. Sư đoàn lính thủy đánh bộ và Sư đoàn dù thiện chiến nhất bị thiệt hại nặng nề. Mặc dù làm chủ được thị xã Quảng Trị nhưng quân ngụy chưa chiếm được đồng bằng Triệu Phong, chưa tới được Đông Hà – Cửa Việt như kế hoạch đã vạch ra. Lực lượng và tinh thần ngụy quân tuy có giảm sút, nhưng trước yêu cầu chính trị, quân ngụy vẫn không từ bỏ tham vọng tập trung lực lượng để giành lại những vùng đất đã bị quân giải phóng chiếm giữ.

Read more…

Quảng Trị – Thừa Thiên năm 1972: Cuộc đụng đầu lịch sử (Bài 4)

Tháng Mười Một 21, 2013 Phản hồi đã bị khóa

Kỳ 4: 81 ngày đêm quyết tử

QĐND - Qua thực tế chiến đấu kể từ khi quân ngụy mở cuộc hành quân “Lam Sơn 72”, bộ đội ta bị thương vong tương đối lớn. Tuy có diệt được một số sinh lực địch, làm chậm bước tiến của quân ngụy, nhưng bộ đội ta không giữ được những khu vực trọng điểm, quân ngụy chiếm được những điểm cao khống chế, bàn đạp quan trọng. Trước yêu cầu cấp bách bảo vệ vững chắc vùng giải phóng Quảng Trị, ngày 15-7-1972, vừa chỉ đạo cách đánh phản công, đồng thời Thường vụ Quân ủy Trung ương đã có chỉ đạo phương hướng chuyển chiến dịch vào phòng ngự. Read more…

Quảng Trị – Thừa Thiên năm 1972: Cuộc đụng đầu lịch sử (Bài 3)

Tháng Mười Một 21, 2013 Phản hồi đã bị khóa

Kỳ 3: Nốt trầm bên sông Mỹ Chánh

QĐND – Sau khi hoàn thành nhiệm vụ giải phóng tỉnh Quảng Trị, theo kế hoạch tác chiến chiến dịch đã đề ra, nhiệm vụ tiếp theo là phát triển tiến công giải phóng Thừa Thiên.

Hòng ngăn chặn cuộc tiến công của bộ đội giải phóng, nhất là trước thảm bại để thất thủ Quảng Trị, Thừa Thiên bị uy hiếp, ngày 4-5-1972, Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa cách chức Trung tướng Hoàng Xuân Lãm, đưa Trung tướng Ngô Quang Trưởng thay làm Tư lệnh Quân khu 1 – Quân đoàn 1, đồng thời đưa lực lượng dự bị của quân khu 1 và tổng dự bị chiến lược ra tổ chức tuyến phòng thủ mới ở nam sông Mỹ Chánh và tây đường 12. Read more…

Quảng Trị – Thừa Thiên năm 1972: Cuộc đụng đầu lịch sử (Bài 2)

Tháng Mười Một 21, 2013 Phản hồi đã bị khóa

Kỳ 2: Giải phóng Quảng Trị

QĐND – Trước ngày 19-3-1972, các Sư đoàn 304, 324 và các lực lượng binh chủng có xe cơ giới (thiết giáp, pháo binh, cao xạ, tên lửa, xe tăng…) từ hậu phương Quảng Bình hành quân vào vị trí tập kết. Riêng Sư đoàn 308 được lệnh đến ngày 25-3 có mặt ở khu vực điểm cao 202 Bắc sông Bến Hải. 18 giờ ngày 29-3, toàn bộ lực lượng tham gia chiến dịch trên tất cả các hướng, đã vào vị trí xuất phát tiến công. Trong khi đó, ngụy quân không hề biết gì, nên ngày 29-3, các đơn vị quân ngụy vẫn thực hiện thay quân giữa Trung đoàn 2 và Trung đoàn 56 ở Cồn Tiên, Dốc Miếu, Tân Lâm, 241, 544.

Read more…

Quảng Trị – Thừa Thiên năm 1972: Cuộc đụng đầu lịch sử (Bài 1)

Tháng Mười Một 21, 2013 Phản hồi đã bị khóa

LTS: Quảng Trị – Thừa Thiên là chiến trường được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương lựa chọn làm hướng chủ yếu trong cuộc tiến công chiến lược của ta năm 1972. Chiến dịch diễn ra trong bối cảnh lịch sử đặc biệt khi hội nghị Pa-ri đang đi tới giai đoạn quyết định cho một giải pháp chính trị. Vì vậy, chiến dịch tiến công này đã trở thành cuộc đọ sức quyết liệt nhất giữa ta và đối phương. Read more…

Thông tin Trường Sơn với Đường 9-Nam Lào

Tháng Mười Một 30, 2011 Phản hồi đã bị khóa

QĐND - Năm 1965, đế quốc Mỹ thay đổi chiến lược chiến tranh cục bộ. Bộ Chính trị quyết định tăng khối lượng chi viện chiến trường. Tuyến đường Trường Sơn được đổi mới phương thức vận tải cơ giới từ nhỏ lẻ tiến lên tập trung từng cung đoạn.

Với kỹ thuật hiện đại, không quân Mỹ nhanh chóng phát hiện mục tiêu xe vận chuyển ban đêm liền huy động máy bay đánh quyết liệt, tạo thành các trọng điểm ngăn chặn. Năm 1965-1966, ta bị tổn thất 386 xe (47,3% tổng biên chế). Có đoàn xe hơn 100 chiếc từ hậu phương đi thẳng vào Binh trạm Ba biên giới chỉ còn 60 xe. Trước tình hình trên, Quân ủy Trung ương quyết định cử phái đoàn thị sát Trường Sơn do Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Đinh Đức Thiện và Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Phạm Ngọc Mậu lãnh đạo vào tuyến chi viện trước mùa khô. Phái đoàn trực tiếp đến các đơn vị tìm hiểu nguyên nhân không hoàn thành nhiệm vụ. Thiếu tá Nguyễn Ngọc – người chỉ huy đoàn xe được triệu tập để làm rõ nguyên nhân. Thiếu tá Ngọc thẳng thắn báo cáo:

- Là người chỉ huy đoàn xe mà để bị đánh cháy 45 chiếc, hy sinh 40 cán bộ, chiến sĩ, tôi xin chịu tội. Nhưng vì sao? Trước hết là từ khi vượt núi rừng Trường Sơn, đoàn xe không nhận được một thông tin cụ thể về tình hình đường sá, nhiều lần đoàn xe đến khu vực quy định nhưng đó lại là nơi địch đã thả bom các loại. Xe chúng tôi dò dẫm chạy vướng bom nổ chậm, bom bi, cả trung đội xe bị xóa sổ… Đau xót, cấp cứu nhau rồi vẫn đi tới… Mấy lần đoàn xe chạy vào vùng địch đã trinh sát, liền bị bom tọa độ trúng đội hình… Dọc đường không có trạm thông báo tin, chúng tôi không biết thế nào để xử trí nên liên tục bị địch đánh ngăn chặn… Anh em lái xe rất dũng cảm, mưu trí lắm mới giao xong hàng, quay về được đến đây…

Ngừng một lát, Thiếu tá Ngọc tiếp:

- Nghe nói các thủ trưởng sẽ kỷ luật, giáng cấp người chỉ huy đoàn xe. Tôi xin chấp nhận. Nói rồi đồng chí Ngọc tự tháo quân hàm Thiếu tá đặt lên bàn, nhấn giọng:

- Tôi không sợ chết, song tình hình tổ chức chỉ huy trên đường vẫn thế này, thì lần sau chắc tôi không còn đầu để về báo cáo thủ trưởng.

Chủ nhiệm Đinh Đức Thiện nổi tiếng nghiêm khắc, nhưng lần này lại rất trầm tĩnh. Ông cầm cặp quân hàm đưa trả Thiếu tá Nguyễn Ngọc và nói:

- Anh nhận lấy! Chưa ai có ý kỷ luật anh. Hãy bình tĩnh kiểm tra lại sự việc, cùng cơ quan tham mưu rút kinh nghiệm lãnh đạo chỉ huy để thắng địch chứ không phải để kỷ luật nhau.

Hoạt động của một trạm thông tin trên đường Trường Sơn trong kháng chiến chống Mỹ. Ảnh tư liệu.

Qua cuộc kiểm tra thế trận bố trí toàn tuyến và tinh thần công tác chiến đấu của bộ đội, phái đoàn công tác nhận thấy: “Trong tình hình địch đánh ác liệt thế, không một ai hoang mang lo sợ đã thể hiện rõ bản chất anh hùng của quân đội ta. Còn về tổ chức chỉ huy thì có vấn đề… Trên một chiến tuyến dài hơn nghìn cây số, hàng vạn người hoạt động, địch đánh như chém chả mà không có thông tin liên lạc đến từng đơn vị, từng đoạn đường thì làm sao không bị ách tắc. Lực lượng vận tải cơ động trên Trường Sơn trung tâm địch tiến hành chiến tranh ngăn chặn – chống ngăn chặn quyết liệt, lại không có thông tin chỉ huy thì chẳng khác gì người mù lạc trong rừng rậm”.

Phái đoàn đã báo cáo chính kiến của mình với Quân ủy, đề nghị Bộ khắc phục khuyết điểm này, phải cho tuyến vận tải Trường Sơn thành lập binh chủng thông tin đa phương thức. Triển khai ngay đường dây trần tải ba kết hợp nhiều phương tiện thông tin, hình thành hệ thống liên lạc vững chắc, bảo đảm chỉ huy trực tiếp trong mọi tình huống đối với từng đơn vị trên toàn tuyến.

Cơ quan Bộ chấp hành khẩn trương quyết định của Quân ủy Trung ương – sau ba tháng, các đơn vị lao động cật lực, mùa khô 1967-1968 hệ thống đường dây trần đã nối thông từ sở chỉ huy Đoàn 559 đến 15 binh trạm đi các hướng chiến trường. Nhờ có thông tin chỉ huy trực tiếp kịp thời xử lý khắc phục khó khăn, vận tải chi viện chiến trường tăng 120%, phục vụ đắc lực cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Vào những ngày quân giải phóng làm chủ thành phố Huế, tổng đài 3000 sở chỉ huy Bộ tư lệnh Đoàn 559 lên mạng tải ba vu hồi bảo đảm tốt cuộc đàm thoại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ Tổng hành dinh Hà Nội vào chiến trường, chỉ đạo trực tiếp Bộ tư lệnh Quân khu Trị Thiên.

Các binh trạm Trường Sơn do đã có thông tin dọc tuyến, cho phép áp dụng chiến thuật vận tải tập trung tiểu đoàn gọn theo hai chiều thuận tuyệt đối, tránh nhau ở giữa. Các tiểu đoàn xe được trang bị máy bộ đàm P105 để chỉ huy đội hình hành tiến. Các tiểu đoàn công binh, cao xạ, kho tàng, trạm điều chỉnh xe, chốt cảnh giới máy bay… đều có thông tin liên lạc hữu tuyến và vô tuyến sóng ngắn hỗ trợ, trực tiếp nhận lệnh hiệp đồng từ Sở chỉ huy binh trạm hoặc Bộ tư lệnh Đoàn 559.

Với hình thái tổ chức chỉ huy thích nghi hoàn cảnh, Binh đoàn Trường Sơn đã vượt qua mọi thủ đoạn ngăn chặn của giặc Mỹ, phục vụ đắc lực các chiến trường miền Nam và hai nước bạn kháng chiến thắng lợi ngày càng lớn. Đặc biệt mùa khô 1970, đường dây thông tin trực tuyến từ chiến trường yêu cầu chi viện khẩn cấp vũ khí hỏa lực. Bộ tư lệnh Trường Sơn liền cho đoàn xe chở vũ khí tốc hành vào Nam Bộ và đông bắc Miên… kịp thời đập tan cuộc tấn công của Mỹ-ngụy sang Cam-pu-chia.

Những năm 1970-1971, tuyến Trường Sơn lại được cải tiến thế trận vận tải chiến lược. Tổ chức 5 sư đoàn khu vực gồm 32 binh trạm, xây dựng hệ thống “đường kín” từ các cửa khẩu hậu phương lên tây Trường Sơn, chạy dọc tuyến tới các hướng chiến trường. Mạng thông tin củng cố hoàn chỉnh 950km đường dây trần, 200km đường dây cáp FFK60. Bố trí 11 trạm cơ vụ, 120 tổ canh dây duy trì liên lạc thường xuyên, kịp xử trí mọi sự cố. Tại các trạm cơ vụ đều lắp máy tăng âm, nhiều đường cao tần như: Cơ vụ B53 lắp máy 12 đường, cơ vụ AC2 lắp máy truyền dẫn 10 đường. Ở sở chỉ huy Bộ tư lệnh 559, Tổng đài 3000 bảo đảm cùng lúc 30 kênh hoạt động không bị nhiễu. Để hỗ trợ chất lượng thông tin, các khu vực còn lắp đặt hàng chục máy tiếp sức P401M, 10 xe điện đài vô tuyến cơ động, 100 máy vô tuyến 105, 109… Mạng thông tin đã thành “hệ thần kinh” của Đường Hồ Chí Minh huyền thoại tiến hành thắng lợi các cuộc tổng động binh toàn tuyến vận tải đạt khối lượng tăng gấp 6,5 lần so với năm 1967.

Sau khi bị thất bại trong cuộc tấn công Cam-pu-chia, đầu năm 1971 Mỹ-ngụy Sài Gòn lại mở cuộc “Hành quân Lam Sơn 719″ tấn công lên Đường 9-Nam Lào. Binh đoàn Trường Sơn sớm nhận được chủ trương của Bộ Tổng tư lệnh chuẩn bị cùng Binh đoàn 70 sẵn sàng cho chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào.

Trên địa bàn Đường 9-Nam Lào, hình thành 7 khu vực tác chiến có chính diện hơn 100km với tung thâm sâu. Bộ đội thông tin Trường Sơn chịu trách nhiệm phục vụ chỉ huy trực tiếp liên tục từ Bộ tư lệnh chiến dịch xuống từng đơn vị, từng trận địa tác chiến. Cùng thời gian, mạng thông tin vẫn phải giữ vững liên lạc của tuyến chi viện chiến lược đến các chiến trường phía Nam.

Đúng dự đoán, ngày 30-1-1971 Mỹ-ngụy mở cuộc hành binh lên Đường 9-Nam Lào. Lực lượng tăng, thiết giáp của địch vượt biên giới, cùng hàng đàn trực thăng đua nhau đổ quân xuống các cao điểm Nam-Bắc dọc Đường 9 lên Sê Pôn…. Tất cả những động thái của địch đều lọt vào tầm mắt các trạm quan sát của ta, kịp thời báo về sở chỉ huy chiến dịch. Bộ tư lệnh chỉ thị các trận địa hỏa lực kiên trì đợi thời điểm quyết định. Đúng “giờ G”, Bộ chỉ huy phát lệnh tấn công: “Bẻ gãy cánh Phượng hoàng bay, đập tan xác thiết xa vận”. Tổng đài 100 số với 30 kênh liên lạc tải ba dồn dập hoạt động, các đài tiếp sức đua nhau phát sóng. Ngay tức thời, hàng chục chiếc trực thăng địch bốc cháy. Đoàn tăng, thiết giáp đụng pháo binh, địa lôi bật tung, một số tháo chạy lao xuống sông cũng bị tiêu diệt.

Cánh quân Thái – Lào từ phía tây tiến xuống liền bị Sư 968, Sư 472 Bộ đội Trường Sơn phối hợp bộ đội Pa-thét Lào chặn đánh ngay khi mới chớm đến Thát Hài, Nậm Tiếng, Keng Coọc… khiến chúng phải tan tác tháo chạy… Chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào của ta đã làm tan vỡ hoàn toàn âm mưu “chiếm đóng ngăn chặn tận gốc Đường Hồ Chí Minh” của đế quốc Mỹ.

Tổng kết chiến thắng, Bộ tư lệnh chiến dịch đánh giá “Binh chủng thông tin Trường Sơn đã đóng góp công tích to lớn, thực hiện tốt bảo đảm hiệp đồng tác chiến các hướng ở phía trước và phía sau rất kịp thời”.

Cuộc tấn công Nam Lào bị thảm bại, Tổng thống Mỹ căm uất, ra lệnh sử dụng không quân oanh tạc hủy diệt Quốc lộ số 9, cắt ngang cuống họng hệ thống Đường Hồ Chí Minh xuyên Trường Sơn… Sư đoàn 472 phụ trách khu vực được chỉ thị phối hợp với Trung đoàn tên lửa chuẩn bị đập tan chiến dịch này của Mỹ. Bộ cũng thông báo: “Kẻ địch chưa biết ta có tên lửa SAM trên Trường Sơn”. Tại cuộc họp hiệp đồng, các đại biểu nhất trí cần phải tạo bất ngờ để thắng địch. Máy bay B.52 đi thế nào cũng kèm theo EB66 là loại được trang bị khí tài phát nhiễu công suất cường độ 3, có thể vô hiệu hóa các sóng ra-đa, phát hiện tên lửa và đẩy đạn tên lửa chệch khỏi mục tiêu. Ta cần phải giữ bí mật tuyệt đối, sư đoàn đặt các đài quan sát có kính viễn vọng nắm định từ xa. Tổng đài 4000 dùng máy tiếp sức P401M bổ trợ mạng thông tin tải ba, tăng hiệu suất thông báo kịp thời khi phi cơ địch còn cách hơn trăm ki-lô-mét.

8 giờ một ngày đầu tháng 2-1971, bầu trời Nam Lào trong xanh. Trạm T25 trên đỉnh Phu Ka Tê thông báo: “Có tiếng rù rù nặng trịch hướng tây nam”. Trên đỉnh Kopo, T26 báo: “Chín F4 bay qua dãy Phu Khốp tạt sang Phu Luổng đến Thác Hài…”. Máy phát sóng ra-đa tên lửa vẫn ắng lặng. T26, T27 thông báo liên tục: “Đoàn F4 vượt Phu Luồng tách làm hai, vòng thượng nguồn Sê Xăng Xoi và vòng hướng đỉnh Voi Mẹp rồi lao xuống Đường 9″… T25 báo: “Sáu F4 đảo lượn dọc Đường 9, cao xạ bắn dữ dội, F4 không bắn trả”. Đài chỉ huy biết nó giở thủ thuật nhứ dử nhằm phát hiện SAM… T28 báo: “Kính viễn vọng nhìn rõ hai máy bay cao ngất ngưởng như tòa nhà”…

Các trạm quan sát vùng trời báo tin tới tấp. Tổng đài cơ vụ 4000 mở cả 20 cửa hoạt động hết công suất bảo đảm thông tin liên lạc kịp thời về Sở chỉ huy và 7 trận địa tên lửa, cao xạ, chốt trọng điểm: “Đàn F4 đến vùng trời Saravan, Mường Phìn…”. “Hai con chồn hoang EB66B đang mở rộng vòng lượn”… “Đám F4 bốc lên cao…”. Đài chỉ huy tên lửa biết là nó không phát hiện dấu hiệu khả nghi có SAM. T28 báo cáo: “Tây Nam xuất hiện nhiều chấm đen to, như đàn nhặng”… Trung đoàn trưởng tên lửa vẫy tay: “Máy phát sóng sẵn sàng”. T26 báo: “Tây Nam 35 độ có bốn chấm đen bằng 1cm”. Trung đoàn trưởng lệnh: “Đài 1 kiểm tra!”. Nhờ các trạm quan sát định hướng chính xác, ra-đa bắt nhanh cả tốp mục tiêu nổi rõ trên màn hiện hình rồi tắt, báo cáo: “Đúng B.52″. Chỉ huy lệnh: “Đài 2 phát sóng!”. Trắc thủ quả quyết: “Ba B.52, một EB66C bay bên trái”. Trung đoàn trưởng nín thở, đanh giọng: “Phóng!”. Hai quả tên lửa lao vút, không bị vô hiệu hóa, bùng đỏ rực trời giữa “bầy nhặng”. Vô vàn tiếng nổ chát chúa khắp dải núi. Tiếng hò reo vang lừng: “Cháy rồi! Chết cha B.52 rồi!”… “Tên lửa muôn năm!”,… “Hoan hô thông tin Trường Sơn!”.

Đàn F4 tán loạn. Hai pháo đài bay thoát chết vội trút ào bom rồi ngoặt về hướng xuất phát. Một tốp phản lực bay ngang Đường 9 bị dính lưới lửa cao xạ, hai chiếc bốc cháy, giặc lái không kịp nhảy dù. Đòn tiêu diệt chiến này, ghi dấu Thông tin Trường Sơn đã tham gia trận đánh kết thúc cuộc chiến tranh ngăn chặn của giặc Mỹ trên Đường Hồ Chí Minh huyền thoại!.

NGUYỄN VIỆT PHƯƠNG

qdnd.vn

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, “Anh bộ đội Cụ Hồ” tiêu biểu

Tháng Tư 10, 2011 Phản hồi đã bị khóa

“Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người không ngừng chăm lo tăng cường bản chất cách mạng của quân đội nhân dân và chính anh là một vị tướng tiêu biểu cho bản chất và truyền thống tốt đẹp của quân đội ta”, Đại tướng Lê Đức Anh đã viết như thế về người đồng chí của mình. Bài đăng trên Vietnamnet.

Cuối năm 1963, tôi được vào chiến trường Nam Bộ bằng tàu Không số, đi trên “Đường Hồ Chí Minh trên biển Đông”. Tháng 4/1964 vào tới Chiến khu Dương Minh Châu, tôi được giao làm Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Miền (B2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tại Đại hội Đảng bộ quân đội 1960.

Đến tháng 9 năm đó, anh Nguyễn Chí Thanh được Bộ Chính trị cử vào trực tiếp cùng Trung ương Cục lãnh đạo kháng chiến của Nhân dân và Quân giải phóng Miền Nam. Cùng vào với anh Thanh còn có các cán bộ chỉ huy cao cấp của quân đội: Lê Trọng Tấn, Hoàng Cầm, Trần Văn Phác, Nguyễn Hòa, Trần Độ… Kể từ đây, tôi được trực tiếp sống, chiến đấu và công tác cùng anh Nguyễn Chí Thanh.

Lúc này, đế quốc Mỹ đã đưa quân chiến đấu Mỹ và quân đội các nước chư hầu ồ ạt vào trực tiếp tham chiến, xâm lược miền Nam. Đây là thời điểm bước ngoặt của cuộc chiến tranh.

Anh Nguyễn Chí Thanh và lãnh đạo Trung ương Cục đã nhận rõ: ở vào giai đoạn cuối của “Chiến tranh đặc biệt”, nếu ta chỉ phát triển chiến tranh du kích, chỉ đánh địch ở quy mô nhỏ thì không thể giành thắng lợi quyết định được. Bởi vậy, cùng với việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, xây dựng lực lượng cách mạng của quần chúng, chúng ta phải coi trọng xây dựng các quả đấm chủ lực, và anh Nguyễn Chí Thanh đã cùng với Bộ chỉ huy Miền chỉ đạo mở các chiến dịch Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài và hàng loạt trận tiến công đánh bại từng chiến đoàn của chính quyền Sài Gòn cũ, cùng với việc phá rã hàng ngàn “ấp chiến lược”, làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ – nguỵ.

Quân đội Mỹ ồ ạt vào xâm lược miền Nam, cùng lúc đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh leo thang, dùng không quân và hải quân đánh phá ác liệt miền Bắc Việt Nam. Hành động phiêu lưu và dã man này khiến nhân loại trên toàn thế giới sửng sốt và lo ngại cho nhân dân Việt Nam.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người phát hiện sớm việc chuyển chiến lược của Mỹ. Phát kiến đó đã được Bộ Chính trị chấp nhận và đề ra quyết sách mới. Lúc đó, anh Thanh đã phân tích: Mỹ vào miền Nam trong thế thua, thế bị động về chiến lược; Mỹ có cả một kho vũ khí khổng lồ nhưng lại vấp phải một núi mâu thuẫn; Mỹ là tỷ phú về đô-la, nhưng quân và dân ta lại là tỷ phú về chủ nghĩa anh hùng cách mạng; Ta có đường lối chiến tranh cách mạng, có chiến thuật đúng, ta sẽ bắt quân Mỹ phải đánh theo cách đánh của ta, nên ta nhất định thắng.

Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh Nguyễn Chí Thanh cùng Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền đã chỉ đạo và tổ chức quân và dân miền Nam phát huy tư tưởng chiến lược tiến công trong tình hình nhiệm vụ mới, đánh thắng quân Mỹ ngay từ những trận đầu. Các trận thắng: Núi Thành, Vạn Tường, Bàu Bàng, Nhà đỏ – Bông Trang, Plây – me và thung lũng Ia – đrăng, cuộc hành quân A-ten-bơ-rô và nhất là đánh bại cuộc hành quân tổng lực để “tìm diệt” mang tên Gian-xơn-xi-ti đã làm nức lòng nhân dân cả nước; trực tiếp xây dựng, củng cố niềm tin và quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ của toàn dân tộc.

Từ thực tế chiến đấu, sự sáng tạo của các đơn vị, các địa phương, anh Nguyễn Chí Thanh đã tổng kết thành phương châm chỉ đạo tác chiến, đồng thời cũng là khẩu hiệu hành động cách mạng nổi tiếng, nhanh chóng đi vào lòng người, lan toả thành cao trào cách mạng trên khắp chiến trường như “Nắm thắt lưng địch mà đánh”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm nguỵ mà diệt”, lập các “Vành đai diệt Mỹ”, thi đua phấn đấu trở thành “Dũng sỹ diệt Mỹ”, “Dũng sỹ diệt xe tăng” v.v… Tựu trung nhất đó là tư tưởng chỉ đạo “ở gần và đánh gần”.

Thực hiện tư tưởng này, chúng ta đã thật sự chống được ý đồ “phân tuyến” của Mỹ – nguỵ, đã hạn chế đến mức tối đa (có trận đã vô hiệu hoá) hỏa lực phi pháo của địch. Ta thắng quân đội Mỹ, và sau này thắng quân của chính quyền Sài Gòn cũ ở giai đoạn “Việt Nam hoá chiến tranh” cũng từ cái tư tưởng “ở gần và đánh gần” này.

Luôn sâu sát thực tế, nắm bắt nhanh nhạy mọi vấn đề, anh Nguyễn Chí Thanh đã phân tích và khái quát rât sâu sắc cục diện cuộc chiến, nhất là sau chiến thắng lớn của ta đánh bại cuộc hành quân Gian-xơn-xi-ti của Mỹ ở miền Đông Nam Bộ.

Bài viết “Năm bài học phản công chiến lược mùa khô” mang bút danh Trường Sơn của anh đã ngay lập tức trở thành tác phẩm có giá trị. Nó là vũ khí tư tưởng cho toàn đảng, toàn quân và toàn dân quyết đánh và quyết thắng quân Mỹ xâm lược. Nó gây ấn tượng mạnh mẽ và niềm tin cho bè bạn năm châu. Nó làm cho quân thù sửng sốt và lúng túng hoang mang. Và nó đã góp phần cùng Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương hạ quyết tâm chiến lược chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công Mậu Thân – 1968 để thực hiện tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Hồ Chủ tịch “Đánh cho Mỹ cút” một cách tin cậy.

Suy cho cùng, tư tưởng “ở gần, đánh gần” vừa là tư tưởng chiến thuật lại vừa là tưởng chiến lược. Đây là điểm thứ nhất nổi trội trong tư duy của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Điểm nổi trội thứ hai là chính Anh đã đề ra biện pháp có hiệu quả để mở mặt trận Tây Nguyên (kể cả việc đề xuất làm sao có lương thực, một yếu tố vô cùng quan trọng, tiên quyết cho việc thực hiện chủ trương lớn này. Kể cả việc anh đề xuất công tác cán bộ trước khi triển khai thực hiện chủ trương mở mặt trận Tây Nguyên). Tôi nhớ, suốt thời chống Pháp và những năm đầu chống Mỹ, rừng núi Tây Nguyên còn heo hút, lực lượng của ta ở đây còn mỏng manh. Cán bộ vào Nam hay ra Bắc đều phải hoặc là đi lận theo ven biển, hoặc là leo đèo lội suối dọc dãy núi Trường Sơn. Đạn và gạo chỉ có thể gùi trên vai thì cố gắng lắm cũng chỉ đủ ăn để đánh du kích.

Thực tế cuộc chiến tranh chống Mỹ đã khẳng định một hiện thực mang tính quy luật và chân lý là: Chúng ta có mở được mặt trận Tây Nguyên thì mới mở được tuyến đường vận tải chiến lược bằng cơ giới, mới đưa được lực lượng lớn người và của vào miền Nam để thực hiện “Cả nước đánh giặc Mỹ, giải phóng miền Nam”. Mặt trận Tây Nguyên mở ra được cũng đồng thời thu hút được lực lượng địch để tạo điều kiện cho chiến trường Nam Bộ, một chiến trường “trọng điểm của trọng điểm” phát triển. Thực tế đã chứng minh tư tưởng chỉ đạo này là đúng đắn và sắc sảo.

Mùa Hè năm 1967, khi ra Hà Nội báo cáo Bộ Chính trị tình hình chiến trường và cùng với Bộ Chính trị, với Hồ Chủ tịch thiết kế và hoạch định cuộc Tổng tiến công Mậu Thân sắp tới, anh Nguyễn Chí Thanh đã đột ngột từ trần. Đây là một đau thương vô hạn, một tổn thất vô cùng lớn của cách mạng Việt Nam, của chiến sỹ và đồng bào cả nước. Đối với Trung ương Cục, Bộ chỉ huy Miền và Quân giải phóng miền Nam thì đây là một tổn thất không gì bù đắp nổi. Anh đột ngột ra đi, nhưng phẩm chất cách mạng, tài năng thao lược và đạo đức lối sống của anh mãi mãi là tấm gương cao cả, sáng ngời, là nguồn cổ vũ lớn lao đối với tất cả chúng ta.

Tôi được biết, anh Nguyễn Chí Thanh tham gia cách mạng từ năm 1934, vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1937. Từ 1937-1938, anh làm Bí thư Tỉnh uỷ Thừa Thiên. Hội nghị toàn quốc lần thứ 8 của Đảng ở Tân Trào, tháng 8-1945 đã cử anh là Uỷ viên Trung ương chính thức và Trung ương chỉ định anh làm Bí thư Xứ uỷ Trung kỳ. Anh đã bị đế quốc Pháp bắt ba lần, giam ở các nhà lao Huế, Lao Bảo, Buôn Ma Thuột. Bị giam cầm, tra tấn nhưng anh luôn giữ vững khí tiết người cộng sản, tổ chức và lãnh đạo cuộc đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù đế quốc và tìm cách vượt ngục thắng lợi để tiếp tục hoạt động, khơi dậy phong trào cách mạng. Anh Nguyễn Chí Thanh là người cộng sản kiên định, trung thành, gian khổ không sờn lòng, khó khăn không lùi bước. Anh là người rất giỏi về tổ chức và vận động quần chúng thực hiện các chủ trương của Đảng. Nhận rõ và tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, anh phát huy được ý chí cách mạng, tinh thần sáng tạo của quần chúng để tiến hành chiến tranh cách mạng, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân, phát triển kinh tế và văn hoá.

Ngày đầu kháng chiến, dải đất hẹp miền Trung nhanh chóng bị thực dân Pháp chiếm đóng. Quân và dân ta thiếu thốn mọi đường: Thiếu vũ khí, lương thực, thiếu căn cứ địa an toàn trong khi các đơn vị vũ trang còn non trẻ, nhiều bề nguy khốn. Lúc đó, anh Nguyễn Chí Thanh đưa ra nhận định mới: Mất đất nhưng chưa mất nước; kiên quyết bám dân, xây dựng cơ sở, phát triển chiến tranh du kích trong vùng địch kiểm soát sẽ xoay chuyển được tình thế. Bình -Trị – Thiên trở thành một mặt trận sôi động và cực kỳ anh dũng, đã góp phần chặn đứng âm mưu chia cắt chiến lược và mở rộng chiến tranh ra Thanh – Nghệ – Tĩnh của thực dân Pháp. Thời đó, đồng bào ở vùng này đã nói: “Anh Thanh là linh hồn của cuộc chiến đấu của Bình -Trị – Thiên khói lửa!”

Năm 1950, anh được Đảng điều vào Quân đội và được giao nhiệm vụ làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và Phó bí thư Quân uỷ. Ngay lập tức và thường xuyên liên tục, anh Nguyễn Chí Thanh giáo dục cho cán bộ chiến sỹ ta thấm nhuần chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Quân đội ta là quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ. Anh đã tổ chức thực hiện sự lãnh đạo có hiệu lực của Đảng đối với quân đội, thực hiện đường lối quân sự của Đảng, tạo ra một bước phát triển mới về sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến, liên tục mở các chiến dịch lớn, từ chiến dịch Biên Giới 1950 đến chiến dịch Điện Biên Phủ. Chấp hành chỉ thị của Hồ Chủ tịch và Bộ Chính trị, anh Nguyễn Chí Thanh đã tập trung vào tăng cường bản chất cách mạng của quân đội nhân dân. Tập trung xây dựng chế độ lãnh đạo tập thể của Đảng trong các cấp, từ Tổng quân uỷ đến chi bộ đại đội, làm cho công tác tư tưởng vượt lên trên phạm vi của công tác động viên và tác động tâm lý thông thường của con người theo bản năng, phát triển thành công tác giáo dục chủ nghĩa Mác Lê-nin, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, mục tiêu chiến đấu của quân đội.

Với việc thiết lập và xây dựng hệ thống tổ chức công tác đảng – công tác chính trị trong quân đội, anh đã làm rõ các mối quan hệ giữa quân đội với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân, với bầu bạn quốc tế, trong đó mối liên hệ giữa quân đội với Đảng là mối liên hệ bản chất chi phối các mối quan hệ khác. Chăm lo giáo dục chính trị, tư tưởng quân sự của Đảng thể hiện trong chiến lược, chiến dịch và chiến thuật; trong giải quyết mối quan hệ giữa chính trị và quân sự, giữa tiền tuyến và hậu phương, giữa con người và vũ khí, giữa lãnh đạo và chỉ huy, giữa đạo đức và tài năng của cán bộ… Tất cả đã tạo ra bước ngoặt về xây dựng chính trị làm cơ sở nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội nhân dân.

Với trọng trách là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, anh Nguyễn Chí Thanh đã chỉ đạo sát sao và trực tiếp chủ trì việc tổng kết công tác đảng – công tác chính trị, xác định rõ vị trí, chức năng, nguyên tắc tiến hành công tác chính trị; phê phán quan điểm hạ thấp và thu hẹp chức năng công tác này. Anh Nguyễn Chí Thanh và người kế nhiệm là anh Song Hào (sau này là Lê Quang Đạo) đã góp phần quan trọng cùng với Quân uỷ Trung ương xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng trong quân đội ngày càng trưởng thành, làm nòng cốt trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, đứng vững trước mọi thử thách chính trị phức tạp.

Anh thường xuyên chăm lo vun đắp phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” – “Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” là bản chất và truyền thống tốt đẹp của quân đội ta do Đảng và Hồ Chủ tịch dày công giáo dục, rèn luyện. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người không ngừng chăm lo tăng cường bản chất cách mạng của quân đội nhân dân và chính anh là một vị tướng tiêu biểu cho bản chất và truyền thống tốt đẹp của quân đội ta.

Giai đoạn bước vào “Kế hoạch 5 năm” xây dựng CNXH ở miền Băc, được Đảng phân công phụ trách mặt trận nông nghiệp, anh đã xắn quần lội ruộng xem xét việc canh tác, khảo sát những khó khăn, tìm hiểu những nơi sản xuất khá, lắng nghe ý kiến các nhà khoa học, xác định phương hướng phát triển sản xuất, phá “xiềng ba sào” cùng với việc thâm canh tăng năng suất, phát động phong trào thi đua với Đại Phong v.v… Tuy chỉ mới một thời gian ngắn nhưng anh đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý và những ấn tượng tốt đẹp cho cán bộ và đồng bào trên mặt trận kinh tế hàng đầu này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ sức mạnh của cách mạng là sức mạnh của toàn dân, trong đó công – nông là lực lượng cơ bản. Thấm nhuần tư tưởng đó, anh Nguyễn Chí Thanh chăm lo tăng cường đoàn kết dân tộc. Là người hoạt động cách mạng khắp cả Bắc-Trung-Nam, anh càng chăm lo xây dựng khối đoàn kết Bắc – Nam, đoàn kết quân dân, củng cố liên minh công – nông, mạnh dạn bồi dưỡng và đề bạt cán bộ xuất thân công nông và các dân tộc ít người, các địa phương, đồng thời coi trọng trí thức cách mạng. Sống ở đâu anh cũng là hạt nhân, là trung tâm đoàn kết.

Thực hiện lời dạy của Hồ Chủ tịch “Đạo đức là gốc; kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân”, anh Nguyễn Chí Thanh là người đầu tiên “nổ súng” và kiên trì đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong quân đội. Lời nói của anh luôn có sức thuyết phục vì bản thân anh sống trong sáng, giản dị, khiêm tốn, đoàn kêt chân thành. Phê bình và tự phê bình thoả đáng nhưng nghiêm túc, không “bé xé to”, không “dĩ hoà vi quý”. Anh là một mẫu mực về: lời nói đi đôi với việc làm, lý luận liên hệ với thực tiễn, đạo đức đi đôi với tài năng, chính trị và quân sự song toàn.

Cuộc đời hoạt động cách mạng của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh kể từ buổi ban đầu đến khi ở những cương vị lãnh đạo cao nhất, lúc nào anh cũng xông xáo thâm nhập vào cuộc sống của đồng bào và chiến sỹ, lăn lộn với phong trào, tìm ra quy luật phát triển tạo ra bước ngoặt mới cho cách mạng, tự tôi rèn mình trong đấu tranh cách mạng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã trở thành nhà chính trị – quân sự lỗi lạc của Đảng, quân đội và dân tộc ta. Như cán bộ và bà con trên mặt trận nông nghiệp gọi anh là “Đại tướng Nhân dân”. Anh Tố Hữu viết: “Sáng trong như ngọc một con người”. Còn Viện trưởng Viện nghiên cứu Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng đã viết rằng: “Sau Bác Hồ vĩ đại, một trong những người cộng sản lãnh đạo có đức tài, tâm huyết, khí phách, có sức hấp dẫn, lôi cuốn mạnh mẽ với quần chúng, đó là anh Nguyễn Chí Thanh!”.

Cuộc đời hoạt động cách mạng, sống và làm việc theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, học và thực hành được nhiều lời dạy của Bác, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là hình ảnh tiêu biểu của “Anh bộ đội Cụ Hồ” với đầy đủ hình tượng cao đẹp, tầm vóc và ý nghĩa sâu xa của danh hiệu cao quý đó. Anh là một trong những cán bộ lãnh đạo lỗi lạc của Cách mạng Việt Nam, của Đảng ta, Nhà nước ta, của Quân đội ta. Anh là người con ưu tú của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh quang vinh!

Đại tướng Lê Đức Anh

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.