Lưu trữ

Posts Tagged ‘Ngụy quyền Sài Gòn’

Tướng Lam Sơn: Tay chơi bi kịch trong quân đội Sài Gòn trước năm 1975

Tháng Mười 4, 2011 Phản hồi đã bị khóa

(Phunutoday) – Những ai từng sống ở miền Nam trước năm 1975, nhất là những người lớn tuổi, hầu hết đều nghe danh, biết tiếng Chuẩn tướng Lam Sơn Phan Đình Thứ. Đeo lon tướng, từng làm Chỉ huy Trưởng Trường Sĩ quan Thủ Đức chuyên đào tạo nhân lực cho quân đội VNCH nhưng ông ta lại có cách hành xử như một tên giang hồ lỗ  mãng.

Nóng nảy, nặng tính chất anh hùng cá nhân, viên chuẩn tướng này từng danh nổi như phao vì không hề biết sợ ai, kể cả thượng cấp hay cố vấn Mỹ.

Ông ta cũng là một sĩ quan cao cấp hiếm hoi của chế độ cũ không gây bè kết đảng, không phe phái để làm chỗ dựa tiến thân. Từng được nhiều sĩ quan trẻ khâm phục, tung hô, nhưng vì tính khí ngang tàng, kiêu bạc, về cuối đời viên tướng này lại tự rước vào thân nhiều oan nghiệt.

Một đời ngang tàng

Không ít người lầm tưởng, Lam Sơn là người gốc Huế. Lắm kẻ còn muốn chứng tỏ mình hiểu rộng, biết nhiều đã quả quyết ông được sinh ra ở Cam Lộ ,Quảng Trị. Thực tế, Lam Sơn tên thật là Phan Đình Thứ sinh ngày 22/4/1916 tại Hà Tĩnh và lớn lên tại Huế. Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông vào đời rất sớm, phải vừa tự học, vừa đi làm.

Năm 1941, tròn 25 tuổi, do cơm áo thúc bách, không có con đường lựa chọn nào khác hơn, ông đã tình nguyện gia nhập vào quân đội Liên Hiệp Pháp. Một năm sau (1942), nhu cầu chiến tranh trong Thế Chiến thứ 2 leo thang, người Pháp  đưa ông sang Bắc Phi, theo học một khóa sĩ quan cấp tốc. Năm 1943, Lam Sơn ra trường với cấp hàm thiếu úy. Vào thời điểm này, mặt trận trên 3 châu lục Âu, Á, Phi giữa quân Đồng Minh và phe Trục đang diễn ra vô cùng khốc liệt, ông được điều động vào Liên Quân Anh – Pháp trực tiếp tham chiến tại hai chiến trường Tunisie và Algerie.

Với nét mặt khắc khổ và làn da ngăm đen, nếu không biết rõ, người bản xứ khó có thể nghĩ ra ông là một người Việt Nam, trong vai trò một sĩ quan quân đội. Tuy nhiên với tánh khí ngang tàng, gan dạ lại giỏi võ nghệ và tửu lượng khá cao, ông được nhìn nhận như một tay chơi nên dễ dàng chinh phục những người lính dưới quyền, cũng là con dân của những đất nước thuộc địa của hai mẫu quốc Anh, Pháp.

Ngày cưới của Lam SơmLam Sơn trong ngày cưới

Ông có nhiều kỷ niệm sôi nổi của thời trai trẻ ở hai xứ sở này. Có lần chính miệng ông kể trong men rượu đã ngà say tại quán Cả Cần trên đường Cách Mạng (nay là đường Nguyễn Văn Trỗi). Lúc bấy giờ ông đóng quân tại Algerie.

Một hôm từ quán rượu trở về khi trời đã khuya. Một mình trên đường vắng, bỗng dưng sau lưng ông có tiếng chân của nhiều người đuổi theo, và một giọng hô vang :”Holt la main!” (Giơ tay lên). Lam Sơn nhận ra tiếng tây của người này thuộc loại giả cầy, phát âm đặc sệt chất giọng Việt Nam. Cho dù vào thời điểm đó, tại Algerie cướp bóc xảy ra như rươi, nhưng ông vẫn tỉnh bơ quay lại nói như quát :”Main, main cái mả mẹ chúng mày.” Quả nhiên nhóm người này ôm chầm lấy ông mừng rỡ: ”Đồng hương, đồng hương chúng mày ơi!”.

Té ra đó là một nhóm thanh niên người Việt, bị người Pháp mộ phu đưa sang Tân Đảo làm đồn điền những năm đầu thế kỷ 20. Rồi sau đó bị đưa vào lính để đi đánh nhau ở Bắc Phi. Do đó, khi biết Lam Sơn là đồng bào của mình, nhóm người trên đã dốc hết túi, kéo ông vào một quán rượu uống cho tới sáng.

Nghe kể tới đây, một người trong bàn  hỏi Lam Sơn : “Anh chửi họ như thế lỡ họ nổi nóng tấn công anh, một mình anh làm sao địch lại?” Lam Sơn trả lời : “Nếu chúng nó là thằng Tây, thằng Anh hay Algerie thì làm sao nó nghe được tiếng Việt mà nổi nóng. Còn như chúng nó là thằng Việt Nam thì chắc chắn là mừng đến rơi nước mắt khi nửa đêm gặp được đồng hương rất hiếm hoi ở cái nơi chết tiệt này.”

Tính cách của Lam Sơn là thế. Năm 1945, ông lên trung úy và được gởi sang Ấn Độ theo học một khóa biệt kích và tình báo ở New Delhi. Mãn khóa học này, ông được giao nhiệm vụ chỉ huy một toán biệt kích đa quốc gia, nhảy xuống Cánh Đồng Chum thuộc Vương quốc Lào để giải giới quân đội Nhật Hoàng.

Lam Sơn nói: “Thằng Anh tại Miến Điện, thằng Nhật ở Đông Dương, hay thằng Pháp tại Điện Biên Phủ, khi còn thắng thế thì oai phong lắm. Nhưng khi đã thua trận thì thằng nào cũng như thằng nấy, đa số cũng chỉ là những con gà nuốt giây thun mà thôi!” Tại Lào, ông được giữ chức vụ Quân trấn Trưởng thị xã Trấn Ninh .

Từ đó, Lam Sơn quen biết với một số sĩ quan người Việt đồng cấp hàm trung úy với ông như: Trần Thiệm Khiêm, Cao Văn Viên, Nguyễn Khánh…Cả ba nhân vật này về sau đều leo lên hàm đại tướng của quân lực VNCH khi Lam Sơn vẫn đì đẹt ở cấp đại tá.

Năm 1951, khi Quân đội Quốc gia Việt Nam (tiền thân của Quân lực Việt Nam cộng hòa sau này) ra đời. Lam Sơn được chuyển sang với cấp bậc đại úy. Năm 1954, ông được thăng lên thiếu tá và được cử đi học khóa Trung đoàn Trưởng cùng với các đồng môn khác là Nguyễn Văn Thiệu (sau này trở thành Tổng thống) , Nguyễn Chánh Thi (Trung tướng). Năm 1956, Lam Sơn mang hàm đại tá, làm Tư lệnh Sư đoàn Khinh chiến 16 và dậm chân ở cấp bậc đó đúng 16 năm với không biết bao nhiêu thăng trầm, vinh ít nhục nhiều.

Khi bị buộc phải ra khỏi quân đội với cấp hàm chuẩn tướng quá muộn màng (1972), có lần diễn viên điện ảnh Huy Cường (rất nổi tiếng trước 1975) là bạn nhậu thường trực của Lam Sơn, hỏi : “Sao anh mang đại tá lâu thế”? Ông trả lời: “Bọn Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Khánh, Cao Văn Viên, Đặng Văn Quang…biết tao khinh tụi nó nên ngán tao lắm, dễ gì lên tướng cho được. Hơn nữa, tao lại hai lần động vào mặt hai thằng Mỹ nên người Mỹ cũng dè chừng.”

Quả đúng như vậy. Năm 1958,  Đại tá Lam Sơn đang theo học khóa Tham mưu cao cấp tại Fort Leawoth, Hoa Kỳ. Một sĩ quan huấn luyện viên người Mỹ nhìn thấy bảng tên ông đeo trên túi áo với hai chữ LamSon viết sát vào nhau. Anh ta tưởng thằng cha da vàng mũi tẹt này lấy tên Mỹ để nịnh hót quan thầy, bèn hỏi một cách xấc mé, đầy coi thường: “Ai chẳng biết mày là người Việt Nam, tại sao phải lấy tên Mỹ như vậy mà không thấy xấu hổ hay sao?” Lập tức, máu Lương Sơn Bạc nổi dậy, một cú đấm hết đà được Lam Sơn tung vào giữa mặt tên huấn luyện viên người Mỹ, kèm theo tiếng chửi thề và một một câu nói đầy phẩn nộ: “Thằng nhãi, tao đã từng chiến đấu khắp chiến trường Á, Phi, chứ không ru rú trong một xó xỉnh như mày. Tên Việt Nam của tao như thế nào thì tao viết như vậy, chứ không cần đặt tên Tây, tên Mỹ gì hết.”

Kết quả, Lam Sơn bị gọi lên văn phòng làm việc và phải xách hành lý rời khỏi đất Mỹ trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Trở về Việt Nam, cho dù lúc bấy giờ ông Ngô Đình Diệm không ghét Lam Sơn, nhưng nghĩ rằng Lam Sơn thân Pháp và sợ mất lòng người Mỹ nên không dám cất nhắc.

Cái vết “không ưa Mỹ” và tính khí ngang tàng tiếp tục gây ảnh hưởng xấu cho ông đối với các chế độ chuyển tiếp tại miền Nam sau ngày triều đại Ngô Đình Diệm sụp đổ. Năm 1962, khi làm Chỉ huy Trưởng Trường Bộ binh Thủ Đức, ông  càng nổi tiếng vì đánh Cố vấn Trưởng người Mỹ.

Trong một buổi duyệt binh thường lệ diễn ra vào mỗi sáng thứ hai hàng tuần, viên Đại tá cố vấn Mỹ cùng với Đại tá Lam Sơn đi ngang qua toán hầu kỳ. Bất chợt, viên đại tá cố vấn dừng lại, đưa ngón tay út chọc vào đầu nòng súng khẩu Garant M1 của một học viên sĩ quan để kiễm tra vũ khí. Ngón tay của ông ta dính đầy dầu chùi súng.

Lam SơnLam Sơn

Cho rằng, người học viên sĩ quan này không lau chùi vũ khí theo đúng quy định, ông đưa ngón tay út dính dầu quệt vào mặt anh ta. Đứng bên cạnh, Lam Sơn không nhịn nổi , ông cho viên cố vấn trưởng một cái tát nảy lửa và lời cảnh cáo: “Tôi tặng ông cái tát này để ông nhớ đời. Đừng bao giờ hành động như thế với bất cứ người lính nào. Nếu họ có lỗi, ông có thể phạt họ theo quân kỷ. Nghe chưa?”

Trong suốt cuộc đời binh nghiệp, Lam Sơn chỉ có ba lần được làm trưởng, nhưng toàn là những chức vụ hữu danh vô thực. Đó là năm 1960, ông làm Chỉ huy Trưởng Binh chủng Biệt động quân, nhưng trong tay không có quân vì tất cả các đơn vị đều thuộc quyền điều động của tư lệnh các quân đoàn và khu chiến thuật. Năm 1962, Lam Sơn làm Chỉ huy Trưởng Trường Bộ binh Thủ Đức, quyền lực chỉ thu hẹp trong phạm vi một quân trường.

Và năm 1964 được làm Tư lệnh lực lượng Đặc biệt, thực chất chỉ có Bộ Tư lệnh khung, một Tiểu đoàn 91 Biệt Cách,  và mấy toán Delta thường xuyên hành quân xa, thêm Trung tâm Huấn luyện Đồng Bà Thìn ở Cam Ranh. Còn lại, các trại biên phòng đều do lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ thành lập, tuyển dụng và trả lương, cũng như trực tiếp chỉ huy các đại đội Dân sự chiến đấu trú phòng.

Suốt đời, Lam Sơn toàn giữ chức phó cho lớp đàn em của mình, theo kiểu ngồi chơi xơi nước “cho có tụ”, kéo dài đến năm 1973, ngày ông giã từ quân đội trong ô nhục. Lam Sơn đã lần lượt trải qua một loạt chức danh  có chữ “Phó”: Năm 1967, Phó Tổng Giám đốc Cảnh Sát quốc gia. Năm 1968, Tổng cục Phó Chiến tranh chính trị.

Năm 1969-1970, Tư lệnh Phó Biệt Khu thủ đô, kiêm Phó Tổng Trấn Sài Gòn Gia Định. Năm 1972, Tư lệnh Phó Quân đoàn 3 và cũng trong năm 1972 ông mới được lên chuẩn tướng làm Tư lệnh Phó Quân đoàn 2 cho đến năm 1973 thì bị loại. Đó là bởi Dương Văn Minh cầm đầu phe quân đội, lật đổ chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm vào ngày 1/11/1963 để lên ngôi vua. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn, vẻn vẹn 3 tháng.

Đến ngày 30/1/1964, Trung tướng râu dê Nguyễn Khánh, đang giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn 2 ở Cao nguyên, bay về Sài Gòn, kết hợp với đảng Đại Việt, cánh thân Mỹ làm chỉnh lý, bắt giữ gần hết tay chân thân tín của Dương Văn Minh.

Với lý do: phe Dương Văn Minh thân Pháp, đang cố đưa miền Nam đi vào trung lập theo kế hoạch của Tổng thống Pháp De Gaulle. Thật ra, đây cũng là một cuộc đảo chính không có tiếng súng và từ giây phút đó, mọi quyền hành đều nằm trong tay Nguyễn Khánh. Ông ta chế ra chức danh Ủy ban Lãnh đạo quốc gia, tự phong mình làm Chủ tịch (Quốc trưởng) và Ủy ban Hành pháp Trung ương do tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch (Thủ tướng).

Để loại bỏ bớt số tướng lĩnh già không theo mình, Nguyễn Khánh lại chế ra cấp hàm chuẩn cướng, phong cho hàng loạt đại tá, trong đó có Lam Sơn, nhằm lôi kéo và thu phục họ. Trước khi ký quyết định này, Nguyễn Khánh cho người đến thăm dò từng đối tượng để tìm hiểu lòng dạ từng người.

Khi được hỏi ý kiến, Lam Sơn đã huỵch toẹt: “Từ trước đến nay, đại tá lên thẳng thiếu tướng chứ quân đội làm gì có cái lon chuẩn tướng. Hơn nữa, cái quyết định thăng cấp này lại do Nguyễn Khánh ký thì chẳng có gì vinh dự.”

Thế là trong danh sách những người lên chuẩn tướng chẳng thấy có tên Lam Sơn – Phan Đình Thứ. Tháng 2/1965, Nguyễn Khánh bị hạ bệ phải chấp nhận đi làm đại sứ lưu động, một hình thức bị trục xuất ra khỏi Việt Nam. Nhưng Đại tá Lam Sơn vẫn cứ là đại tá bởi đàn em tín cẩn của Nguyễn Khánh là Nguyễn Cao Kỳ còn đó, và đang làm chủ vũ đài chính trị Miền Nam.

Dưới triều đại Nguyễn Văn Thiệu, trong mắt ông ta, Lam Sơn là con người nặng chất anh hùng cá nhân một cách vô thưởng, vô phạt. Nhưng cái tính ngang tàng đó cũng làm cho Thiệu và Cố vấn An ninh phủ Tổng thống Đặng Văn Quang ngán, nên những tháng năm còn lại trong quân đội, Lam Sơn chỉ được giữ những chức vụ trời ơi đất hỡi.

Vì thế mà ông là một vị tướng nghèo, suốt đời mang hai cái tật lớn là nát rượu và ham gái. Chính hai cái tật này đã dẫn dắt ông vào con đường oan nghiệt, phần nào đã làm tổn thương đến cuộc đời ngang tàng của ông với những huyền thoại từng được nhiều người quý mến.

Cuối đời oan nghiệt

Cuối cùng, năm 1972, Lam Sơn – Phan Đình Thứ cũng được Nguyễn Văn Thiệu thăng chuẩn tướng một cách muộn màng, sau 16 năm mang hàm đại tá. Oái oăm thay, ông lại bị điều lên làm Tư lệnh Phó Quân đoàn 2, dưới quyền của Quế Tướng Công – Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, một kẻ thuộc hàng đàn em xa lắc xa lơ của ông.

Bởi vì, năm 1956, khi Lam Sơn đã mang hàm đại tá thì Nguyễn Văn Toàn chỉ mới là một anh trung úy. Rất nhiều sĩ quan cao cấp làm việc tại Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 thời đó xác nhận, dù là “sếp”, nhưng Nguyễn Văn Toàn rất ngán Lam Sơn, ít khi dám ngồi chung với nhau, nhất  là trong tiệc rượu, ngoại trừ công việc và những lúc họp hành. Toàn ngán bị Lam Sơn nổi chứng bất tử, chửi thẳng vào mặt không biết lúc nào.

Lam Sơn là kỷ lục gia duy nhất của Quân lực Việt Nam cộng hòa khi từng nhận các huy chương: Bắc Đẩu Bội Tinh của Pháp, Chiến Dịch Bội Tinh Pháp giành cho các sĩ quan tham dự thế chiến thứ hai, huy chương Bảo Vệ Nước Pháp của Tổng thống De Gaulle. Huy chương Bạch Tượng do Quốc Vương Lào gắn và huy chương Silver Star do tướng Mỹ Westmoreland gắn. Đó là chưa kể đến một đống huy chương Việt Nam mà mỗi lần nhắc đến, Lam Sơn thường nói : “Mỗi tấm huy chương đều có mặt trái của nó”.

Vào năm 1973, khi làm Tư lệnh Phó Quân đoàn 2, Lam Sơn được cấp một tư dinh khá tiện nghi ở Pleiku. Đây là nơi ông ta thường xuyên tổ chức những cuộc nhậu quên trời, quên đất với một số bằng hữu đủ mọi thành phần trong xã hội, nhưng phải là tay có tửu lượng cao và biết hát hò, ngâm vịnh. Tuy là dân võ biền, nhưng Lam Sơn lại rất thích thi phú và ca hát. Ông hát không hay, nhưng cũng không đến nỗi tệ và rất thích hát. Để trông coi tư dinh này, Lam Sơn giao hẳn cho vợ chồng viên quản gia là một người thượng sĩ trung thành, từng theo ông trên nhiều bước thăng trầm.

Không có ai mô tả nhan sắc người vợ của viên thượng sĩ quản gia này như thế nào, dư luận chỉ xôn xao rằng những lúc viên quản gia vắng nhà, chuẩn tướng Lam Sơn đã nhiều lần ăn ở với vợ của ông ta và đã có lần bị đệ tử bắt quả tang. Thế nhưng, mọi chuyện đều được đôi bên dàn xếp ổn thỏa, tưởng như đôi gian phu, dâm phụ đó sẽ chấm dứt mọi quan hệ bất chính.

Dĩ nhiên, người quản gia trung thành kia phải cắn răng chấp nhận khổ đau trong im lặng, không chỉ vì muốn giữ trọn ân tình mà còn giữ trọn thân phận của kẻ thấp cổ, bé miệng. Vậy mà đến khi biển êm, sóng lặng, men rượu đã khiến cho Lam Sơn không làm chủ được mình và ông đã tái phạm.

Lần này, viên quản gia không còn nhẫn nhục được nữa, ông xách súng vào gặp Lam Sơn và bắt đầu to tiếng, nhưng vẫn chưa dám xiết cò. Trước tình thế đó, Lam Sơn đã nhanh tay hơn, ông vội rút khẩu colt 45 mang sẵn trong người, nhả đạn vào ngực viên quản gia. Gã đệ tử trung thành, khốn khổ của một “tướng quân” nổi tiếng “giang hồ”, nhưng cuối cùng đã ngã xuống sàn nhà trên vũng máu lai láng.

Ngay sau đó, Lam Sơn không bị bắt, nhưng được mời đến Quân cảnh tư pháp để lấy lời khai rồi bị câu lưu về tội giết người. Để giữ danh dự cho quân đội, trong biên bản của Quân cảnh tư pháp, không hề có dòng nào đề cập đến mối quan hệ tội lỗi giữa Lam Sơn với vợ viên quản gia. Người ta chỉ thấy biên bản này mô tả người quản gia vô kỷ luật, rượu chè be bét, bị ma men dẫn đường, đã mang vũ khí, đột nhập vào phòng riêng của Lam Sơn, toan chơi nổi, lấy tiếng, buộc lòng Lam Sơn phải nổ súng để tự vệ một cách vô cùng chính đáng.

Ra khỏi quân đội trong nỗi ê chề, Lam Sơn xuống cấp nghiêm trọng. Ông trang phục lôi thôi, thường là chiếc quần tây nhăn nhó, chiếc áo ca rô ngắn tay ít khi được bỏ trong quần lê đôi dép da lang thang khắp các quán rượu.

Ông cũng không có tiền nhưng khi biết ông là cựu Chuẩn tướng Lam Sơn, phần lớn chủ quán đều cho uống “chùa”. Rất nhiều sĩ quan thuộc nhiều binh chủng, nhất là các binh chủng rằn ri, đi phép về Sài Gòn, vì mến mộ một thời ngang dọc của đàn anh, nên nghe ông đang ngồi ở quán rượu nào là họ tìm tới đó để được mời “đại ca” một chầu túy lúy càn khôn.

Gia đình Lam Sơn tại PhápGia đình Lam Sơn tại Pháp

Thời điểm này, Lam Sơn có hai người bạn chí cốt, cũng là những tay nát rượu, thường xuyên xuất hiện bên cạnh ông để ăn theo những chầu nhậu hoành tráng. Cho dù bản thân ông luôn bị viêm túi, nhưng cái món rượu chè thì luôn được thập phương cống hỷ dồi dào.

Người thứ nhất là Hoàng Tùng, cựu Đại úy Biệt động quân bị mù cả hai mắt, nhưng luôn mặc đồ rằn ri, mang giày bốt và đeo súng lục. Ông này gốc gác Quảng Trị, có giọng hát khá hay .

Trước khi hát, thường có đôi lời phi lộ, kể lể về thân phận thương phế binh, bị vợ con ruồng bỏ rất bi thảm của mình đã khiến nhiều em “sến” rơi lệ , xót thương. Người thứ hai là diễn viên điện ảnh Huy Cường, anh ta là một trong số ít nam tài tử rất nổi tiếng trước 1975. Phải tội dính vào ma túy nên mượn rượu để cai, riết rồi thành nghiện rượu.

Lúc đầu, không ít quán rượu, lấy làm tự hào và vui mừng khi được đón tiếp bộ ba đặc biệt này. Hơn nữa, sự có mặt của họ cũng làm cho quán thêm đông, rất nhiều khách vì ái mộ họ mà đến. Một số khách còn vui vẻ bỏ tiền ra trả những chầu nhậu mát trời ông địa để được nghe Lam Sơn chửi đổng cho sướng lỗ tai.

Rượu vào là lời ra, Lam Sơn hết chửi Mỹ, đến chửi Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên, Đặng Văn Quang, Hoàng Xuân Lãm, Nguyễn Văn Toàn…Trong mắt ông đó là một lũ ăn hại. Thái độ khinh miệt này của Lam Sơn đều được đám an ninh Phủ Tổng thống ghi nhận, báo về cho Thiệu, nhưng Thiệu cũng chịu bó tay bởi chẳng biết phải đối phó cách nào trước một con người không còn gì để mất.

Lúc bấy giờ, nhà văn Nguyên Vũ đang tại ngũ với cấp bậc đại úy, có mấy lần ngồi nhậu với Lam Sơn, đã lớn tiếng phụ họa, phê phán Nguyễn Văn Thiệu và đám bộ hạ tham nhũng của ông ta, lập tức bị đày ra vùng 1 và bị cô lập trên núi Hòa Khánh. Dần dà, số người hào phóng nói trên không còn tìm đến quán rượu với Lam Sơn và các chủ quán cũng không còn mặn mà với ông nữa.

Không có tiền, bộ ba Lam Sơn – Hoàng Tùng – Huy Cường phải ghi sổ hết quán này đến quán khác. Riết rồi không còn nơi nào chịu cho họ thiếu nợ, bởi nợ cũ cứ chồng chất, chẳng biết bao giờ mới thu được. Từ đó, người ta thấy Lam Sơn hiếm khi xuất hiện ở những quán rượu sang trọng, chỉ còn vãng lai ở những quán nhậu bình dân.

Ngày 30/4/1975 đến, Lam Sơn cũng phải khăn gói lên đường đi cải tạo như tất cả những quan chức của chế độ cũ khác. Ông bị đưa vào Trại Hà Nam Ninh ở ngoài Bắc và trở thành một trại viên “mồ côi” bởi không có người thăm nuôi.

Ở trong trại, những lúc rỗi rảnh, Lam Sơn thường thư giãn bằng cách ca hát. Có một tấm hình khá thú vị, chụp ban tứ ca gồm: Cựu Thiếu tướng Lê Minh Đão (Tư lệnh sư đoàn 18 – đệm ghi ta) bên cạnh các “ca sĩ” cựu Thiếu tướng Nguyễn Xuân Trang (Tham mưu Trưởng Liên quân), cựu Thiếu tướng Lý Tòng Bá (Tư lệnh Sư đoàn 25, tất nhiên, tất cả đều của chế độ cũ) và Lam Sơn đang ngồi hát khi ở Trại Hà Nam Ninh.

Sau ngày được trở về, Lam Sơn được chính phủ Hoa Kỳ đồng ý cho định cư tại Mỹ theo diện H.O nhưng Lam Sơn đã từ chối. Có lẽ ông không thích người Mỹ và một phần cũng muốn ở lại quê hương. Một thời gian sau, thông qua người thân trong gia đình ông, một người bạn Pháp từng sát vai chiến đấu với ông tại chiến trường Tunisie là Tướng nhảy dù Guy Simon đã trình bày với Bộ Tư lệnh Nhảy dù, Bộ Ngoại giao và Bộ Di trú Pháp về trường hợp một cựu sĩ quan nhảy dù Pháp tên là Lam Son – Phan Đình Thứ và Tướng Simon đã đứng ra bảo lãnh cho cả gia đình Lam Sơn sang định cư tại Pháp. Chính phủ Pháp đồng ý và Lam Sơn đã sang Pháp năm 1989.

Lam Sơn qua đời ngày 23/7/2002. Và ước nguyện cuối cùng của ông là đúng 10 năm sau ngày mất, con cháu phải đem hài cốt của ông hỏa thiêu và đem nắm tro tàn về Việt Nam để ông được mãi mãi yên nghĩ giữa lòng đất mẹ.

Đoàn Thiên Lý

phunutoday.vn

Khi “quả chanh” Nguyễn Văn Thiệu kiệt nước

Tháng Chín 30, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Vào ngày 12/1/1973, sau những đình hoãn do vụ “ném bom vào dịp Lễ Giáng sinh” gây ra, một điệp viên của CIA đã dựa vào những nguồn tin từ Hà Nội dự đoán rằng Mỹ và Hà Nội sẽ ký kết một hiệp định ngừng bắn vào ngày 20. Do bị Kissinger cấm không được phán tán thông tin, CIA tại Hà Nội đã thúc giục trụ sở chính phải nhanh chóng báo cáo thông tin này vì họ hiểu tầm quan trọng của ngày được nêu ra.

Hiệp định Paris và San Clemente

Cũng đã có dấu hiệu cho thấy ít nhất chính quyền Sài Gòn đã có lời gợi ý xa xôi về bản hiệp định. Bunker lo ngại về sự nhạy cảm của Kissinger, nên đã giục giã Polgar cảnh báo cơ quan đầu não CIA. Polgar lập tức làm theo với hy vọng ” ngăn chặn mọi sự nghi ngờ và tức giận” có thể xảy ra tại Nhà Trắng nếu thông tin bị rò rỉ ra từ phía Mỹ.

Ngày 16/1, Haig chuyển cho Thiệu một tối hậu thư nữa của Nixon, đe dọa sẽ tố cáo Thiệu là cản trở hòa bình nếu ông ta từ chối ký vào bản hiệp định. Thiệu tiếp tục giữ thái độ ngoan cố của mình, chỉ nói với Haig rằng ông ta sẽ trả lời vào ngày hôm sau.

15 phút sau khi Haig rời đi, Thiệu đến và đọc bức thư của Nixon cho quốc hội nghe. Cuộc thảo luận tiếp sau đó chỉ tập trung vào bàn các biện pháp thực thi, trên cơ sở chiến thuật “một mũi tên trúng nhiều đích” của Thiệu, nghĩa là việc ông ta thể hiện sự ngoan cố của mình là để nhằm bòn rút mọi thứ có thể từ Mỹ trước khi ông ta đặt bút ký vào bản hiệp định.

Những nguồn tin khác cũng cho CIA biết rằng ngày hôm đó Thiệu đã nhượng bộ trước những điều không thể tránh khỏi và sẽ đồng ý ký hiệp định. Haig nhẹ cả người và ông ta sẽ không phải lo lắng về những chiến thuật mà ông ta định sử dụng với Thiệu vào ngày 17.

Thiệu đã trao cho Haig một bức thư gửi Nixon đòi hỏi thêm sự thay đổi nhưng vấn đề đó giờ đã được quyết định. Thiệu chỉ còn mỗi việc là thông báo quyết định của mình cho chính phủ và quân đội của ông ta. Vào ngày 20/1, Thiệu triệu tập Hội đồng An ninh quốc gia. Phó Tổng thống Hương vừa khóc vừa mô tả lại phiên họp ảm đạm đó và tự coi mình là kẻ giơ đầu chịu báng.

Hương nói rằng ông ta so sánh Nam Việt Nam với một cỗ xe ngựa đang đứng trên một chiếc cầu đang sập, sẽ gặp nguy hiểm cho dù đi về bất cứ hướng nào và nói về việc ký vào hiệp định như một thứ đỡ tệ hại nhất trong số những thứ tệ hại. Sau khi để cho Phó tổng thống nổi tiếng về việc chống Cộng Hương cầm chịch, Thiệu tiếp tục để cho Hương công nhận cái thực tế mà họ không thể tránh khỏi.

Ngày 23/1, ám chỉ đến việc Mỹ đang gây sức ép đối với việc ký vào bản thỏa thuận, Thiệu nói trong một cuộc họp nội các rằng hiệp định Paris phản ánh một sự đồng thuận giữa Mỹ, Trung Quốc và Liên bang Xô Viết; sự chấp thuận của Nam Việt Nam là điều không thể tránh khỏi.

Nhưng ông ta tin rằng việc ông ta không chấp nhận thoả thuận hồi tháng 10/1972 đã giúp ngăn cản một kết quả bất lợi hơn; kết quả của đợt ném bom trong Lễ Giáng sinh, như Thiệu nói, là sẽ ngăn cản hoạt động quân đội miền Bắc ở miền Nam trong ít nhất là 3 tháng nữa.

Nhưng Thiệu không hề hiểu rằng ông ta đã thuận theo những áp lực mà Nhà Trắng đã áp đặt lên ông ta như thế nào. Haig đã nói với đại sứ Bunker sau lễ ký hiệp định rằng Thiệu không thể không chấp nhận hiệp định này được.

Tổng thống Nixon đã hứa sẽ đón tiếp Tổng thống Thiệu khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, và ông ta đã thực hiện lời hứa của mình khi ông mời Thiêụ tới thăm Nhà Trắng phía Tây ở San Clemente vào đầu tháng 4. Đại sứ Bunker và trưởng văn phòng CIA tại Sài Gòn đã có mặt trong đoàn của sứ quán. Ngày 31/3, Polgar đã tới sân bay sớm để đến San Clemente và ông ta gặp tướng Szuecs người Hungary.

Tướng Szuecs có mặt là bởi ông ta phải đón Tư lệnh quân đội của chính phủ cách mạng lâm thời. Khi họ chờ máy bay hạ cánh, Szuecs đã chỉ vào 2 sĩ quan Cộng sản dẫn một đội danh dự của quân đội miền Bắc từ Ủy ban quân đội liên hiệp Paris uỷ thác và hỏi Polgar: “Ngài có biết những người này không?”.

Polgar nói rằng, không biết và Szuecs đã giới thiệu Polgar với một chỉ huy người miền Bắc Việt Nam trẻ tuổi, Szuecs nói bằng tiếng Anh rằng Polgar là “một trong những nhân vật quan trọng nhất của sứ quán Mỹ, sau đại sứ Bunker”. Người chỉ huy Việt Nam này đáp lại một cách lịch sự: “Ngài có muốn duyệt đội ngũ không?” và Polgar đã nhận lời mời.

Ngay sau khi đến San Clemente, Bunker phàn nàn với Polgar rằng ông ta không được mời tới dự bữa tối duy nhất mà Nixon mời Thiệu. Ông ta nghĩ rằng Thiệu sẽ thấy điều này là khó hiểu. Polgar đương nhiên là đồng ý, và ông ta nói vấn đề này với Kissinger, người đã rất “tức giận” khi khám phá ra rằng người chiếm chiếc ghế cuối cùng của bữa tiệc là H.R.

Haldeman, Chánh văn phòng của Nixon. Haldeman đã từ chối đề nghị rút lui khỏi bữa tiệc của Kissinger và Ngoại trưởng đã đến gặp trực tiếp Tổng thống. Nixon cuối cùng đã quyết định để Bunker tham dự.

Những rắc rối không chỉ dừng lại ở giai thoại này. Kissinger rất thân thiện với Polgar và đã một lần mời ông cùng ăn sáng. Nhưng rút cục là nhà bếp do văn phòng Halderman điều hành đã không mang tới bất cứ thứ gì cho họ tại phòng của Kissinger ngày hôm đó. Họ không bàn gì nhiều về những việc đại sự nhưng ngay buổi chiều hôm đó, đại sứ Mỹ tại Nam Việt Nam vừa được bổ nhiệm Graham Martin đã gõ cửa phòng Polgar.

Ông ta đã nghe kể về bữa sáng, và theo như Polgar nhận thấy trong cách thức “bí ẩn và lôi cuốn” của Martin, thì Martin có vẻ lo lắng vì sợ rằng Polgar sẽ có thể bỏ qua ông ta mà bàn luận thẳng mọi việc với Kissinger. Nhưng Polgar đã đảm bảo với Martin rằng, là trưởng cơ quan CIA tại Sài Gòn, Polgar phải làm việc cho đại sứ và cho dù cuộc gặp đầu tiên giữa họ khá căng thẳng, họ đã có một mối quan hệ tốt đẹp ở Sài Gòn, sau khi Martin đến nhậm chức vào giữa mùa hè.

Polgar đã ngồi nghe khi Nixon hứa với Thiệu sẽ cung cấp 1 tỷ USD viện trợ quân sự và một tỷ nữa viện trợ kinh tế. Polgar cho rằng chính điều này đã giải thích tại sao Thiệu lại luôn tin rằng Nixon trung thành với chế độ Sài Gòn.

Thêm áp lực cho Thiệu

Sự thiết lập của một bộ máy thực thi lệnh ngừng bắn ở miền Nam không có nghĩa là tất cả các bên đều đã nhất trí với các biện pháp tiến hành. Kissinger và Lê Đức Thọ đã bắt đầu tái thương lượng một số điều khoản và Thiệu phản đối những lời lẽ trong dự thảo về phân định ranh giới giữa Sài Gòn và vùng lãnh thổ do phe Cộng sản kiểm soát.

Một bản thông cáo dự định sẽ được công bố ngày 7/6, và quyền đại sứ Charles Sheldon Whitehouse (Bunker đã rời nhiệm sở sau 6 năm làm việc một cách kiệt sức ở Sài Gòn) đã cố gắng để thuyết phục Thiệu nhất trí. Khi thấy việc thuyết phục Thiệu trở nên khó khăn, Polgar đã gặp tướng Quang để nhắc lại luận điệu quen thuộc rằng “sự ủng hộ của Mỹ đối với Nam Việt Nam quan trọng hơn nhiều bất cứ một chiến thắng về ngôn từ nào tại bàn đàm phán”.

Cả Quang và Thiệu đều không biết rằng Nixon sẽ có cuộc họp với lãnh đạo Quốc hội Mỹ ngày hôm đó và bởi thế nên ông ta rất cần sự chấp thuận của Thiệu. Polgar đã nói điều này với tướng Quang. Vì thế, những lời nói của Polgar đã khiến cho Thiệu quyết định triệu tập Whitehouse đến gặp ông ta vào chiều hôm đó.

Nhưng quyền đại sứ Whitehouse cũng không thể lay chuyển được Thiệu. Theo quan điểm của Polgar, sự ngoan cố của Thiệu bắt nguồn từ 3 lý do. Ở mức độ chiến thuật, Polgar cho rằng Thiệu không tin cả động cơ của Mỹ và Bắc Việt Nam trong việc tái đàm phán về các điều khoản thi hành, vì ông ta nghĩ rằng những đàm phán về lãnh thổ từ hồi tháng 1 vốn có lợi cho chính quyền Sài Gòn khiến những cuộc đàm phán nữa là không cần thiết.

Hơn nữa, Polgar còn nhìn nhận nguyên nhân của việc này là do thái độ thù địch cá nhân của Thiệu với Kissinger và nỗi tức giận trong khi Hà Nội tham gia đàm phán trực tiếp, còn miền Nam Việt Nam thì bị giáng cấp xuống vị trí khách hàng.

Sự đình trệ giữa Mỹ và Thiệu vẫn tiếp tục. Ngày 10/6, Nhà Trắng ra lệnh cho Polgar nhắc lại với tướng Quang về những thiệt hại với chính quyền Sài Gòn nếu Quốc hội đột ngột cắt khoản hỗ trợ tài chính để đáp lại thái độ ngoan cố của chính quyền Sài Gòn. Một quan chức CIA gặp tướng Quang tại nhà thờ Sài Gòn và đã thiết lập cuộc gặp.

Quang chấp nhận lập luận của Polgar nhưng Thiệu vẫn tiếp tục đòi hỏi “những thay đổi không đáng kể” mà ông ta cho rằng là thiết yếu trong việc tránh được một sự “hợp pháp hóa việc phân chia miền Nam Việt Nam”. Tuy nhiên, Polgar nghĩ rằng Thiệu sẽ đối ý: “Cảm nhận của tôi là chỉ cầm thêm một lá thư nữa của Nixon là sẽ đạt được mục đích”.

Song những cố vấn của Thiệu, bao gồm cả Quang, ủng hộ một cách hoàn toàn và mạnh mẽ thái độ không khoan nhượng của Thiệu khi đưa vào bản thông cáo một điều khoản của hiệp định liên quan tới tổng tuyển cử. CIA đã báo cáo về Washington vấn đề này và Nixon lập tức hạ lệnh cho đại sứ William Sullivan ở Paris phải nhắc tới điểm này với Lê Đức Thọ.

Bức thông điệp của Nixon gửi Thiệu công bố nhượng bộ này đến vào lúc 6h sáng ngày 13/6 và Polgar đã gặp Quang 1 giờ sau đó để trao đổi. Quang đã đoán trước một cuộc tranh cãi trong Hội đồng An ninh Quốc gia của Thiệu, tại đó ông ta và Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên thúc giục ký chấp thuận, còn những nhân vật dân sự diều hâu như Hoàng Đức Nhã sẽ phản đối.

Polgar cho biết họ đã đi tới gần cuối con đường và giục Quang phải thuyết phục được Tổng thống chấp thuận vào buổi trưa. Quang và Viên đã thắng thế và họ đã tránh được sự đổ vỡ trong quan hệ với Mỹ khi tất cả các bên đều ký vào nghị định thư ngày hôm đó ở Paris.

Polgar nói với cơ quan đầu não CIA rằng CIA tại Sài Gòn đã đóng một vai trò quan trọng trong việc đạt được thoả thuận với chính quyền Nam Việt Nam và CIA tại Mỹ đã phúc đáp, nhấn mạnh rằng họ đã làm rất tốt công việc, đã cho thấy “sự phối hợp của việc thu thập thông tin tình báo và các hoạt động chính trị”.

Co kéo điểm mấu chốt

Mùa hè năm 1973, 6 tháng sau khi Hiệp định Paris được ký kết, trưởng cơ quan CIA tại Sài Gòn Polgar cho rằng lực lượng của Thiệu “đã tiến bộ và củng cố kiểm soát ở phần lớn những vùng dân cư ở Nam Việt Nam”.

Khi đưa ra nhận xét này, rõ ràng là Polgar đã không đánh giá đúng tầm quan trọng của những thông tin tình báo thu thập được từ những tháng trước đó cho hay phe Việt Cộng đã quyết định chuyển trọng tâm của mình từ hoạt động quân sự sang đấu tranh chính trị.

Vài năm sau đó, ông ta cho rằng chiến dịch bình định hóa nông thôn đã thành công khi mà chính phủ Sài Gòn kiểm soát được tất cả các thủ phủ quận, huyện. Và ngay cả căn bệnh ung thư của chính quyền Sài Gòn là tham nhũng thì ông cũng cho rằng căn bệnh đó rất phổ biến ở khắp Đông Nam Á.

Tuy nhiên phó của Polgar là Conrad LaGueux không tự tin như sếp của mình. Ông ta cho rằng sự đầu tư ồ ạt của Mỹ vào nền kinh tế nông thôn đã không khiến cho người dân trung thành hơn với chế độ Sài Gòn. Theo quan điểm của ông ta “Việt Cộng đã có được sự ủng hộ sâu sắc và rộng rãi”.

Một trong những quan chức của Polgar thuộc cơ quan đánh giá và chỉ dẫn (IAB) nhớ lại rằng cơ quan này còn đưa ra những đánh giá bi quan hơn cả của LaGueux. Robert Vandaveer đã điều hành văn phòng CIA ở Huế trong vòng 2 năm trước khi đến Sài Gòn vào giữa năm 1973 để tham gia vào IAB.

Giải thích cho lý do điều chuyển công việc này, Polgar nói với Vandaveer rằng ông ta cần có sự tham gia của CIA để những đánh giá của cơ quan này được cân bằng hơn. Vandaveer hiểu rằng Polgar muốn chính phủ Mỹ cam kết nhiều hơn với chính quyền Nam Việt Nam và ít dằn vặt hơn vì những điểm yếu của nó. Polgar không cấm báo cáo về trung ương tin xấu nhưng ông ta đã áp đặt một tiêu chuẩn kiểm dịch chặt chẽ và đòi hỏi những báo cáo kiểu như vậy phải được “đặt vào viễn cảnh xa hơn”.

Trên thực tế, điều này có nghĩa những báo cáo về nạn tham nhũng của chính phủ, những nhận định cá nhân theo hướng xấu, thường hiếm khi được công bố. Và mỗi khi một làng nào đó rơi vào sự kiểm soát của phe Cộng sản sau hiệp định Paris, bản báo cáo đó phải chỉ rõ rằng một số lượng lớn hơn các làng vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Sài Gòn.

Nhưng yêu cầu về “viễn cảnh” này lại không áp dụng cho những tin tốt, Vandaveer cho rằng khi Thiếu tướng Timmes thay mặt CIA tiến hành những chuyến hành vi thường kỳ về tình hình quân đội Nam Việt Nam, ông ta thường đưa ra những báo cáo lạc quan về mặt bề nổi và Polgar chấp nhận điều đó.

Ngược lại, những nhà phân tích tại CIA lại đưa ra dự báo về sự thâm nhập ngày một sâu của phe Cộng sản và rất nhiều sĩ quan CIA hoạt động ở hiện trường hoàn toàn hoài nghi về sự tiến bộ của tiến trình chính trị ở Nam Việt Nam.

Sự tô điểm chính trị

Cho dù quan điểm chính trị của tầng lớp nông dân vào năm 1973 như thế nào, sự cam kết của Mỹ để Nguyễn Văn Thiệu tiếp tục quản lý Nam Việt Nam đã đặt dấu chấm hết cuộc đấu tranh nhằm phương Tây hóa tiến trình chính trị quốc gia ở Nam Việt Nam.

Như những phần trước đã đề cập, vào cuối năm 1971, trưởng văn phòng CIA ở Sài Gòn lúc đó là Ted Shackley đã đoán trước khả năng về một cuộc đấu tranh chính trị cam go khi hiệp định ngừng bắn có hiệu lực. Nhưng vào tháng 6/1973, khi cuộc bầu cử thượng viện đến gần, CIA và Bộ Ngoại giao Mỹ chỉ quan tâm đến hình ảnh của Sài Gòn ở Mỹ hơn là sự sống còn của thể chế này.

Cơ quan đầu não CIA ở Mỹ và ở Sài Gòn cố gắng liên hệ với các đảng phái trong chính phủ và cả đảng phái đối lập nhằm tạo cho cuộc bầu cử “dáng vẻ của một cuộc diễn tập đa đảng phải càng nhiều càng tốt”.

Polgar hứa sẽ cố gắng nhưng cũng nói rõ rằng ông ta không thể làm gì nhiều vì chính quyền Nam Việt Nam vẫn tức giận vì Mỹ đã gây áp lực buộc họ ký vào hiệp định Paris, khiến cho họ “không còn tin rằng Mỹ sẽ là đúng như những cam kết của mình”, có nghĩa tiếng nói của Mỹ sẽ còn rất ít trọng lượng với họ.

Ngày 18/6, CIA tại Sài Gòn báo cáo rằng những áp lực của họ lên các nhân vật chính trị để họ lập ra đảng đối lập đã thất bại bởi những nhân vật này hiểu rõ được thất bại hiển hiện một khi tranh cử.

Trong những tuần ở khoảng thời gian giữa lúc Ellsworth rời nhiệm sở và Graham Martin chuẩn bị nhậm chức, Polgar phải giải quyết những bản báo cáo về mối bất hòa giữa Tổng thống Thiệu và Thủ tướng Khiêm. Lo ngại rằng những diễn biến như vậy có thể gây ra bất ổn, đại sứ lâm thời đã khuyến khích Polgar đến gặp trực tiếp Khiêm để hỏi về chuyện này.

Thủ tướng sẵn sàng thừa nhận những căng thẳng gần đây giữa họ do ông rút lui khỏi vị trí đứng đầu danh sách ứng cử viên thượng viện cho đảng Dân chủ của Thiệu và bởi vì quan điểm chống đối của ông với những cố vấn diều hâu như Hoàng Đức Nhã, một người mà ông ta cho là “hung hăng, kiêu ngạo và có sức thuyết phục”.

Khiêm, một người thường tự cho mình là không biết sợ gì cả và có những hành động theo nguyên tắc mà Polgar không hề tin tưởng, đã nói rằng ông ta và tướng Cao Văn Viên chống lại những nỗ lực của Nhà Trắng trong việc thúc đẩy một chế độ “chuyên chế, hoàn toàn tập trung” theo mô hình của Ngô Đình Diệm.

Tháng 7/1973, vào giữa giai đoạn mà Polgar gọi là khoảng lặng trước cơn bão, Graham Martin đến nhận nhiệm vụ là đại sứ Mỹ tại Sài Gòn. Ông này đã từng làm đại sứ ở Thái Lan và Italy. Khi họ đến Sài Gòn, Martin và vợ đã mất một đứa con trai trong cuộc chiến ở Việt Nam. Mặc dù có phong cách hoàn toàn khác với Bunker, người được Polgar miêu tả là hòa nhã, thân thiện và tử tế, Martin dường như không đưa ra thay đổi gì đáng kể đối với phái đoàn trong phương cách tiếp cận những vấn đề cơ bản.

Trong giai đoạn đầu, quan hệ của Polgar với đại sứ mới ở mức trung bình, nhưng chỉ sau vài tháng, Polgar “rõ ràng đã trở thành người thân tín nhất của đại sứ”. Quan hệ của họ tốt đẹp mặc dù Polgar nhiệt tình ủng hộ một số nhà báo Mỹ mà Martin không thích. Sau đó, Polgar còn đảm nhận thêm nhiệm vụ giúp Martin tìm một người phó mới cho ông ta và cùng ông ta đánh giá lại những quan chức cấp cao của sứ quán.

Đại sứ mới tận dụng văn phòng CIA như một kênh thông tin và gây ảnh hưởng một cách tối đa, giống như Bunker đã từng làm. Như phó trưởng văn phòng CIA tại Sài Gòn LaGueux nhận xét, lý do là bởi Martin rất tin tưởng ở sự cẩn trọng của văn phòng CIA.

Một lý do khác là bởi CIA có những mối liên hệ mật thiệt với người của Thiệu như Khiêm, Quang, những người sẵn sàng thúc đẩy những quan điểm và chính sách của Mỹ với Thiệu. Thêm vào đó, còn có những yếu tố khác khiến CIA trở nên quan trọng.

Phó đại sứ mới, Wolfgang Lehmann, không được phong hàm đại sứ như người tiền nhiệm của ông ta là đại sứ Whitehouse, và điều này đã khiến ông ta không được tổng thống Thiệu coi là một nhân vật đối thoại chính thức. Trong khi đó, văn phòng CIA lại có thể duy trì mối liên lạc không chính thức với Khiêm trong lúc Ngoại trưởng Trần Văn Lắm phản đối mối liên lạc thường xuyên của sứ quán với Thủ tướng mà không thông qua bộ của ông ta.

Đáp ứng đòi hỏi của sứ quán và Washington, CIA bắt đầu sử dụng những quan hệ của họ, cả với những người trong quốc hội, để phục vụ mục tiêu tô điểm chính trị. Conrad LaGueux nhớ lại rằng mục tiêu của họ thời gian đó tập trung xung quanh việc chính quyền đối xử với những tù nhân chính trị đã gây ra sự bất bình trong công luận Mỹ.

LaGeuex không hiểu Thiệu được cái gì khi bắt giam những người chống đối không phải là Cộng sản. Ông ta đã thuyết phục chính quyền Sài Gòn công bố thông tin về những tù nhân và đảm bảo rằng họ được đối xử tử tế. Khi vụ xìcăngđan Watergate xảy ra, chính quyền Nixon không thể đảm bảo được sự ủng hộ Thiệu như trước. Vấn đề càng leo thang vào tháng 9/1973, Martin thì thuyết phục Thiệu và Polgar thì thuyết phục Khiêm để họ quyết định thả một nhân vật chống đối không phải là Cộng sản. Con bài quen thuộc của Mỹ lại là triển vọng về viện trợ nếu chính quyền Sài Gòn không tuân thủ.

Polgar đã gặp Hoàng Đức Nhã về trường hợp những người chống đối này và nhắc nhở ông ta rằng khoản viện trợ cho cảnh sát đang có nguy cơ không còn nữa. Kết cục, ngày 18/9, chính quyền đã hứa sẽ thả 3 thành viên nghiệp đoàn mà không kết tội họ.

Khi mùa hè chuyển sang thu vào năm 1973, người Mỹ đã thắng thế vị khách hàng bướng bỉnh của họ khi ép được Thiệu phải ký vào hiệp định ngừng bắn và nghị định thư thực thi hồi tháng 6. Nhưng rút cục, chính quyền của Nixon đã không thể giữ lời hứa của mình là ủng hộ Thiệu tới cùng. Kết cục của những con rối chính trị như thế nào thì ai cũng đã rõ.

“…Thiệu đã thực thi chính sách ‘một mũi tên trúng nhiều đích’, nghĩa là ông ta thể hiện sự ngoan cố của mình là để nhằm bòn rút mọi thứ có thể từ Mỹ trước khi ông ta đặt bút ký vào bản hiệp định…”.

Bắc Bình (lược dịch) – CSTC số 8

CAND Online

Tướng lĩnh Sài Gòn tự thuật (*) Phần cuối

Tháng Tư 20, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Cái hắt hơi cuối cùng

Có một kế hoạch được âm thầm thực hiện bởi những người trung thành một cách mù quáng với chính quyền Sài Gòn. Ngay sau khi mất Tây Nguyên, Đà Nẵng…., tướng Nguyễn Khoa Nam – Tư lệnh Vùng 4 quân đội Sài Gòn đã chuẩn bị khá hoàn chỉnh kế hoạch lập mật khu để tiếp tục bám trụ tử thủ. Tuy nhiên kế hoạch đó nhanh chóng vỡ tan.

  • Kế hoạch tử thủ ở Cần Thơ

Quân đội Việt Nam Cộng Hòa di chuyển những người Mỹ và cộng sự ra khỏi Sài Gòn.

Lê Nguyên Bình, Đại tá thuộc Bộ Tham mưu Quân đoàn 4 quân đội Sài Gòn kể lại: “Trong thời gian này, tại Cần Thơ, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 và Quân đoàn 4 đã đặt nỗ lực vào việc xây nhiều địa ốc thật kiên cố chuẩn bị cho Bộ Tổng tham mưu của quân lực và các đơn vị bạn, khi cần có thể rút về giữ tuyến cuối cùng. Lợi dụng vị trí thiên nhiên của sông Tiền Giang cắt ngang với miền Nam, với địa thế sình lầy của vùng Đồng Tháp có thể làm giảm thiểu tốc độ di chuyển quân của Cộng quân.

Với sự tồn tại của toàn bộ các thị trấn chưa nơi nào lọt vào tay Cộng quân, với các căn cứ không quân và hải quân vẫn còn nguyên vẹn có thể dùng làm căn cứ cho lực lượng liên hệ từ các quân khu khác rút về”. Ngụy quân hy vọng với 3 sư đoàn bộ binh cộng với lực lượng quân địa phương họ sẽ cầm cự được và chờ cơ hội phản công khi “cơn sốt chính trị gây rối loạn và hoang mang trong hàng ngũ qua đi”. Lê Nguyên Bình kể tiếp: “Tôi mang ý kiến này ra bàn với Tư lệnh Quân đoàn, Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam thì được tán thành ngay. Cuộc phòng thủ cuối cùng của quân đội vẫn được ráo riết thực hiện”.

Một sĩ quan tùy viên kể: “Từ ngày 24 đến 30-4-1975, trước sức ép của quân giải phóng đã chia cắt và chiếm lộ 4 (quốc lộ 1 hiện nay) nhiều đoạn dài, tỉnh trưởng Long An nhiều lần gọi điện xin được dùng thuốc nổ phá hủy hai cầu Tân An và Bến Lức nhằm cắt đứt bước tiến của Cộng quân nhưng Nguyễn Khoa Nam nhất quyết không đồng ý vì dự phòng phương án cho chính quyền Bộ Tư lệnh quân đội Sài Gòn lui về Cần Thơ bằng đường bộ”. Chung Tấn Cang, nguyên Đô đốc Hải quân, người chỉ huy toàn bộ hạm đội Hải quân Sài Gòn cũng chuẩn bị một chiến hạm cho chính phủ Dương Văn Minh lưu vong ra nước ngoài hoặc lui về Cần Thơ tử thủ.

Lê Minh Đảo, Thiếu tướng, Tư lệnh Sư đoàn 18 sau thất bại trong việc chốt chặn đường tiến của đại quân giải phóng Xuân Lộc cũng đặt hết hy vọng vào vùng này. Theo một tài liệu của Nguyễn Tuyến kể lại: “Quân đoàn 4 có dự trữ đạn dược ít nhất cầm cự được vài tháng để chờ đợi vận động quốc tế yểm trợ chứ chưa đến nỗi phải đầu hàng một cách nhục nhã như vậy”. Chính vì niềm hy vọng này mà Lê Minh Đảo không bỏ chạy ra nước ngoài như các tướng tá Sài Gòn khác. Sau 30-4, tướng Đảo về Cần Thơ nhưng mọi chuyện không như ông ta nghĩ.

Về ý chí “đánh tới cùng” của hai tướng Tư lệnh Vùng 4, bà Phạm Thị Kim Hoàng, vợ của Lê Văn Hưng, Chuẩn tướng Tư lệnh phó Vùng 4 – người chứng kiến chồng tự sát vào chiều 30-4 kể lại: “Tướng Nguyễn Hữu Hạnh thay thế cho tướng Vĩnh Lộc đã nhiều lần gọi điện thoại xuống Cần Thơ khẩn khoản yêu cầu Tướng Hưng về hợp tác với Dương Văn Minh. Nhưng tướng Hưng khẳng định “Không hợp tác với Dương Văn Minh. Tử chiến đến cùng”, nhất định không chấp nhận lời yêu cầu đầu hàng của chính quyền Sài Gòn.

  • Đổ vỡ

Dù được chuẩn bị rất chu đáo nhưng hai tướng Nam và Hưng đã không thể khởi động được kế hoạch này. Đến giờ phút cuối, người giữ mật vụ hành quân đã bỏ trốn. Bà Hoàng kể: “Kế hoạch hành quân đã thảo xong. Lương thực đạn dược sẵn sàng. Tất cả đều chuẩn bị cho các cánh quân di chuyển, sẽ đưa về các tuyến chiến đấu. Từ 2 đến 4g chiều ngày 30-4, đúng theo kế hoạch thì lệnh hành quân bắt đầu. Nhưng hỡi ôi, khi liên lạc đến các cấp chỉ huy của các đơn vị thì mới hay họ chưa biết tí gì về kế hoạch. Tìm kiếm đại tá an ninh, người lãnh nhiệm vụ phân phối phóng đồ và lệnh hành quân mật đến các đơn vị thì mới vỡ lẽ ra vị sĩ quan này đã đưa vợ con tìm đường tẩu thoát sau khi ném lại tất cả mật lệnh vào tay đại úy dưới quyền. Ông này cũng cuốn gói trốn theo đại tá đàn anh. Thiếu tướng Nam và Hưng tức uất không sao tả nổi.

Một nguyên nhân khác được lý giải về sự đổ vỡ kế hoạch trên là bản thân tướng Nam và tướng Hưng không dự liệu được tình huống đầu hàng của chính quyền Sài Gòn. Lê Nguyên Bình kể: “Qua Đài Phát thanh Sài Gòn, Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh cho toàn bộ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng đầu hàng và chuẩn bị bàn giao căn cứ. Mọi người đều rúng động, không khí căng thẳng đến cực độ. 10g30 phút sáng, Thiếu tướng Nam bước vào hội trường với ánh mắt thật buồn”. Một yếu tố nữa làm cho kế hoạch của tướng Nam tan thành mây khói là sự mất khả năng kiểm soát của chính quyền Cần Thơ: “Cần Thơ, sáng 30-4-1975, dân chúng nhốn nháo hoang mang, đã có một số binh sĩ bỏ ngũ. Tại thị xã, cảnh náo loạn đáng buồn chưa từng có đã xảy ra”. Kế hoạch tử thủ ở Cần Thơ cũng không thuận theo lòng quân dân địa phương.

Tuy nhiên, nguyên nhân quyết định làm cho kế hoạch lập mật khu sụp đổ chính là sức mạnh tổng tiến công, tổng khởi nghĩa, áp dụng đồng thời ba mũi giáp công của ta. Lực lượng Quân khu 9 đã bao vây Cần Thơ và tấn công quyết liệt vào nhiều vị trí trọng yếu, cắt đứt mọi khả năng tiếp tế của lực lượng ngụy quân. Đài Phát thanh, Truyền hình Cần Thơ đều lọt vào tay quân giải phóng. Lê Văn Hưng tự sát vào chiều 30-4 và tướng Nam tự sát vào sáng ngày 1-5. Kế hoạch hành quân lập mật khu vĩnh viễn khép lại, đặt dấu chấm hết cho những gắng gượng cuối cùng của quân đội Sài Gòn. Cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa xuân của chúng ta toàn thắng!

Mạnh Minh lược ghi

(*) Tác giả Lê Đại Anh Kiệt, NXB CAND kết hợp với Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa phát hành.

SGGP Online

Tướng lĩnh Sài Gòn tự thuật (*) Phần 3

Tháng Tư 20, 2011 Phản hồi đã bị khóa

“Cánh cửa thép” cuối cùng bị sập

Ngày 9-4, quân giải phóng tiến đánh chiếm thị xã Xuân Lộc – Long Khánh, tuyến phòng thủ từ xa cuối cùng của Sài Gòn nhằm dọn sạch trở lực còn lại trên hành trình tiến về Sài Gòn.

  • Đập tan “cánh cửa thép” Xuân Lộc

Quân đội Việt Nam Cộng hòa đưa quân tăng viện cho Xuân Lộc 1975

Ngụy quân tung hết lực lượng nhằm đánh chiếm lại những gì đã để cho quân ta chiếm lấy nhưng chúng đã chạm phải một đội quân quá hùng mạnh. Tại ngã ba Dầu Giây, quân ta cũng đồng loạt tấn công Chiến đoàn 52 bộ binh từ ngày 12-4-1975 bằng biển người và tăng, pháo. Lần lượt các tiền đồn, phòng tuyến của Trung đoàn 52 bộ binh từ Kiệm Tân về tới ấp Phan Bội Châu trên quốc lộ 20 đều bị đánh cho tan tác. Cuộc đụng độ ác liệt nhất xảy ra vào chiều ngày 15-4-1975 ngay tại xã Giầu Giây giữa Chiến đoàn 52 và Binh đoàn 4 của ta, do Tướng Trần Văn Trà chỉ huy.

Quân ta sử dụng chiến thuật biển người làm cho Chiến đoàn 52 đều bị tiêu diệt sau mấy ngày đêm cầm cự. 9g đêm đó khi hầm chỉ huy của chiến đoàn bị sập, đại tá chiến đoàn trưởng cho rút quân, chỉ còn có 200 người sống sót! 10g sáng ngày 20-4-1975, lệnh bỏ Long Khánh được ban hành bởi Tư lệnh Sư đoàn 18 bộ binh. Tất cả lực lượng tại đây rút quân qua liên tỉnh lộ. Và trong cuộc rút quân xuyên qua 4km rừng cao su đen nghịt này, lực lượng ngụy quân đã bị tổn thất một cách ghê gớm. Ngay trong đêm rút quân 20-4-1975, Đại tá Phạm Văn Phúc và Trung tá Lê Quang Định, Tiểu khu trưởng và Tiểu khu phó Tiểu khu Long Khánh đã bị tử thương.

Chiến thắng Xuân Lộc đã đập tan “cánh cửa thép” cửa ngõ phía Đông Sài Gòn, làm rung chuyển cả hệ thống phòng thủ còn lại của địch ở xung quanh Sài Gòn, tạo ra một sức bật quyết định cho toàn cục diện chiến dịch Hồ Chí Minh. Với việc bỏ Xuân Lộc khiến Sài Gòn không còn phòng thủ từ xa nữa, quân giải phóng áp sát thành phố ở các tuyến ngoại vi. Cùng ngày 20-4, Đại sứ Mỹ Martin đến phủ Tổng thống thuyết phục Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Ngày 21-4 Thiệu từ chức tổng thống nhường quyền cho Trần Văn Hương.

Thượng tướng Trần Văn Trà, nguyên Tư lệnh quân giải phóng Miền Nam lúc đó, đã nhận định về chiến thắng này: “Đây là trận đánh quyết chiến chiến lược vô cùng lớn lao, đẫm máu nhất nhưng cũng oanh liệt nhất, thắng lợi lớn nhất trong chiến dịch Hồ Chí Minh… Trận đánh Long Khánh là trận mấu chốt để phá tan khu vực phòng ngự vững chắc của Mỹ ngụy và tiến công chiếm đánh Sài Gòn” (trích Miền Nam thành đồng đi trước về sau).

  • Giờ khắc lịch sử

Đến cuối ngày 28-4 tất cả các tuyến phòng thủ đã bị chọc thủng tại tất cả các hướng, quân giải phóng có thể đi ngay vào thành phố. Mỹ và các lực lượng chính trị của chính quyền Sài Gòn dàn xếp để đưa Đại tướng Dương Văn Minh lên làm tổng thống trong ngày 28-4-1975. Ngay khi nhậm chức để tiến hành đàm phán Tổng thống Dương Văn Minh yêu cầu người Mỹ ra đi.

Trong các ngày 28, 29-4, từ các tàu sân bay ngoài khơi thủy quân lục chiến Mỹ dùng trực thăng di tản lực lượng quân đội Mỹ và lực lượng khác đã từng cộng tác chặt chẽ với họ. Cuộc di tản đã diễn ra trong lộn xộn và hỗn loạn. 8g sáng 30-4 Tổng thống Dương Văn Minh và Bộ tổng tham mưu quân đội Việt Nam Cộng Hòa hạ lệnh đơn phương ngừng chiến, sẵn sàng đón quân đối phương vào Sài Gòn để bàn giao chính quyền.

9g sáng cùng ngày, đúng 1 tiếng đồng hồ sau khi chiếc trực thăng cuối cùng của Mỹ rời nóc tòa đại sứ, Tướng Trần Văn Trà lệnh cho quân giải phóng tiến vào Sài Gòn từ năm hướng. 10g45 ngày 30-4, xe tăng mang số hiệu 843 húc nghiêng cổng phụ Dinh Độc Lập. Bùi Quang Thận – Đại đội trưởng, chỉ huy xe 843 – nhảy xuống xe, cầm cờ chạy bộ vào. Xe tăng 390 húc tung cánh cửa chính của dinh. 11g30 cùng ngày, Trung úy Bùi Quang Thận đã hạ lá cờ Việt Nam Cộng Hòa trên nóc dinh xuống, kéo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên” (nguồn: Wikipedia). Sài Gòn đã về với ta.

  • Họ nói gì sau thất bại?

Sự sụp đổ của quân đội Sài Gòn xuân 1975 bắt đầu từ cuộc triệt thoái khỏi Tây Nguyên mấy ngày sau khi Buôn Ma Thuột thất thủ. Về nguyên nhân thất bại một cách nhanh chóng và thảm hại này, bản thân những người từng tham chiến đã nhìn nhận rằng, đó là do sự mâu thuẫn nội bộ, bưng bít thông tin. Những người cầm quyền cao nhất của chính quyền Sài Gòn sợ đảo chính phản động nên phân tán lực lượng không tập trung vào những mũi nhọn trọng yếu để chống đỡ. Khi thất bại rồi, họ đùn đẩy trách nhiệm.

Sự mâu thuẫn nội bộ ấy kéo dài đến tận đất Mỹ. Hoàng Văn Lạc, nguyên Thiếu tướng Tư lệnh phó Quân đoàn 1 quân đội Sài Gòn kể: “Sau chiến tranh, khi tới trại di cư trên đất Mỹ cả hai tướng Cao Văn Viên và Ngô Quang Trưởng được tổ chức Research Corporation tiếp xúc. Họ được Ban quân sử của Bộ Quốc phòng Mỹ trả tiền viết tài liệu liên quan đến cuộc chiến tranh Việt Nam. Mối bất đồng giữa Viên và Trưởng biểu lộ rõ rệt. Trưởng gán sự thất bại vào “Lãnh đạo tồi, chính phủ trung ương thiếu nhân tài…”. Trong khi tranh luận gay cấn, tướng Viên không hề lên tiếng nhưng sau buổi họp, tướng Viên kéo Khuyên (tức Đồng Văn Khuyên – Tổng Cục trưởng Tổng cục Tiếp vận quân đội Sài Gòn) lại và nói: “Tụi nó học đòi thói mới! Nếu còn ở Việt Nam loại này đã bị vặn cổ toi mạng”.

Sự rạn nứt càng lớn khi sau này, trong các cuộc thảo luận về chiến tranh Việt Nam, Trưởng tỏ thái độ bất phục tùng từ việc chọn ghế ngồi đến chọn đề tài thảo luận. Tướng Trưởng thổ lộ: “Niềm tin đã mất, khi tới xứ này chỉ còn tâm tình, bổn phận”. Hoàng Văn Lạc ngậm ngùi kết luận: “Chính sự lầm lẫn của chúng ta đã khiến chúng ta thua trận, đã khiến chúng ta bỏ rơi quê hương và dân tộc để trốn chạy và sống một cách tủi hổ nên đất khách quê người”.

Mạnh Minh lược ghi

Bài 4: Cái hắt hơi cuối cùng

(*) Tác giả Lê Đại Anh Kiệt, NXB CAND kết hợp với Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa phát hành.

SGGP Online

Tướng lĩnh Sài Gòn tự thuật (*) Phần 2

Tháng Tư 20, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Phan Rang – vỏ trứng mỏng sao ngăn bão lửa?

Sau khi mất cả Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng và cả miền Trung, Nguyễn Văn Thiệu đưa ra một chiến lược “đầu teo đít to” (chấp nhận mất Tây Nguyên và miền Trung để giữ miền Nam). Ninh Thuận – Phan Rang, quê hương của Thiệu, đã được xây dựng thành phòng tuyến tử thủ. Phan Rang được hô hào như là một chiến lũy bất khả xâm phạm.

  • Chắp vá, bị động và bế tắc

Các binh lính thủy quân lục chiến Scarface cuối cùng ở Việt Nam

Thiệu điều động Nguyễn Vĩnh Nghi, Trung tướng – nguyên Tư lệnh Vùng 4 trực tiếp chỉ huy chiến tuyến với những lời hứa về các điều kiện binh – hỏa lực rất lý tưởng. Nhưng khi tiếp nhận phòng tuyến mới vỡ lẽ vì lực lượng phòng thủ chỉ là những đơn vị què quặt bại trận được lắp ghép, vá víu. Tướng không quân thì điều động chỉ huy mặt đất. Đó là trường hợp của Phạm Ngọc Sang, Chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân vừa chân ướt chân ráo từ chiến trường Pleiku về đã trở thành tướng trấn giữ biên cương bất đắc dĩ. Tướng Sang kể về tình thế bi đát lúc đó: “Căn cứ tôi bây giờ rất trống trải, vì một số lớn quân nhân địa phương canh gác ngoài vành đai đã bỏ nhiệm vụ… Ngoài thị xã, tỉnh trưởng đã rời nhiệm sở, dân chúng thì ngơ ngác phân vân. Trên quốc lộ 11 hướng về Sài Gòn, từng đoàn xe dân sự và quân sự chật nứt người rầm rộ tiếp nối nhau di tản. Tệ hại hơn nữa là Đà Lạt cũng bỏ chạy…”.

Trong tình thế cứu binh như cứu hỏa thì hai sư đoàn để bảo vệ phòng tuyến Phan Rang mà Nguyễn Vĩnh Nghi mong ước hoàn toàn không có mà chỉ có một lữ đoàn lính dù. Sang kể tiếp: “Ngày 12-4-1975, ngày khởi đầu có bất trắc trong việc phòng thủ Phan Rang. Liên đoàn 31 biệt động quân vừa rút khỏi Chơn Thành sau nhiều ngày tác chiến gian khổ với nhiều tổn thất, chưa kịp nghỉ dưỡng quân thì được tung ra tiền tuyến với quân số thiếu thốn trầm trọng. Sư đoàn 2 bộ binh vừa tháo chạy từ Quảng Ngãi vừa tập trung tại Bình Tuy và đang được bổ sung quân số thì cũng được ra lệnh phải ra Phan Rang trong khi cả đơn vị còn hoang mang, dao động vì chưa kịp bổ sung thiết bị”.

Binh tàn tướng bại đã đẩy lũy đài “bất khả xâm phạm” (!) Phan Rang vào thế bị động và bế tắc. Trong hồi ký “Thiên thần mũ đỏ ai còn ai mất”, Lê Quang Lưỡng – Tư lệnh Sư đoàn dù kể về tình thế bối rối này trong giọng điệu hờn trách, bức xúc: “Vừa đặt chân đến Sài Gòn, tôi đã được lệnh Tổng tham mưu cho Lữ đoàn 2 ra Phan Rang thay thế cho Lữ đoàn 3, để lữ đoàn này tái chỉnh trang đơn vị. Tôi chẳng hiểu tại sao lại thế. Rút một đập ngăn nước lớn đi, đập mới chưa xây dựng xong, lụt lội sẽ ùa tới tàn phá tan tành. Người ta đã ném Lữ đoàn 2 vào đại dương giông bão”.

  • Lấy vỏ trứng ngăn cơn bão lửa

Trong hoàn cảnh bối rối ấy, các tướng lĩnh quân đội Sài Gòn đã lên dây cót cho nhau bằng những lời hứa ảo, những hy vọng hão huyền về lực lượng tăng viện không có thực. Ngay cả giải pháp chính trị cũng không hề có trong thực tế. Lực lượng mỏng manh, tiếp tế nhỏ giọt đẩy tuyến phòng thủ Phan Rang vào sự chênh vênh. Trong khi đó lực lượng giải phóng của ta tiến quân “thần tốc hơn, thần tốc hơn nữa” đã khép chặt gọng kìm, hình thành thế bao vây.

Tướng Sang kể lại những giờ phút hấp hối của Phan Rang như sau: “Quả nhiên 8g tối Cộng quân gia tăng cường độ pháo vào phi trường đồng thời cho di chuyển suốt đêm rất nhiều đoàn xe chở bộ binh, thiết giáp, pháo binh… Mặc dù chúng tôi đã đốc thúc phần tham gia của không quân nhưng cuối cùng đoàn xe Cộng quân tắt đèn và vượt qua cầu Ba Râu, rồi chiếm thị xã vào 7g sáng ngày 16-4-1975… Ngày 16-4-1975, lúc vừa sáng Cộng quân lại lẻ tẻ xâm nhập vào cổng số 2 của phi trường về hướng Bắc và kho bom ở hướng Tây. Lúc mới khoảng 8g sáng, Đại tá Biết (liên đoàn trưởng liên đoàn Biệt động quân quân đội Sài Gòn) bỗng báo cáo Du Long bị mất và Cộng quân đã vào thị xã… Khoảng hơn 9g sáng, khi trực thăng võ trang bị hỏa tiễn SA.7 bắn tại ngọn đồi gần phi trường thì tình hình đã nguy ngập. Đến lúc này, Trung tướng Nghi vẫn tin tưởng vào khả năng chiến đấu của Trung đoàn 4 bảo vệ phi trường và Trung đoàn 5 án ngữ cổng số 1 của căn cứ. Đến khoảng 10g, khi tiếng súng càng lúc càng dồn dập, Tướng Nghi liền họp cùng Chuẩn tướng Nhựt, Đại tá Lương và tôi để duyệt xét tình hình. Khoảng đến 10g30 sáng, khi các toán Cộng quân sắp tiến vào Bộ Tư lệnh tiền phương thì Trung tướng Nghi mới ra lệnh rời căn cứ bằng đường bộ… Lúc 9g tối, dưới sự hướng dẫn của Đại tá Lương, đoàn người bắt đầu rời thôn Mỹ Đức. Chưa đi được bao xa thì bị phục kích. Trung tướng Nghi, ông Lewis và tôi cùng một số quân nhân bị Cộng quân bắt”.

Lực lượng đào thoát theo hy vọng lập phòng tuyến mới ở Cà Ná lần lượt tan rã và bị bắt làm tù binh. Tuyến phòng thủ Phan Rang gồm căn cứ không quân, lực lượng phòng thủ ở thị xã Phan Rang và vùng phụ cận đã nhanh chóng tan rã sau 10 tiếng đồng hồ bị quân ta tấn công. Quân giải phóng của ta băng băng tiến về Sài Gòn.

Trung tá dù Trương Dưỡng rút ra nguyên nhân thất bại của tuyến phòng thủ Phan Rang là do sự thấp kém của cấp chỉ huy chóp bu quân đội Sài Gòn. Trương Dưỡng vừa bức xúc: “Quân đoàn 2 tiểu đoàn chỉ đủ để trám vào chỗ của một tiểu đoàn dù. Phương tiện lại thiếu thốn, rõ ràng là đem con bỏ chợ, chẳng ai ngó ngàng đến! Chỉ biết điều động mà không chịu xem xét thực trạng quân tình… Chúng ta đã từng đẩy lui Cộng quân trong biến cố Tết Mậu Thân và Mùa hè đỏ 1972, dù lúc đó họ đã vào đầy thành phố. Nhưng tại sao năm 1975 lại bị mất đất và rã ngũ nhanh như vậy?”. Tuy nhiên, có điều mà Trương Dưỡng không nhận ra là thực tại đã biến chuyển rất lớn.

Mạnh Minh lược ghi

Bài 3: Cánh cửa thép cuối cùng bị sập

(*) Tác giả Lê Đại Anh Kiệt, NXB CAND kết hợp với Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa phát hành.

SGGP Online

Tướng lĩnh Sài Gòn tự thuật (*) Phần 1

Tháng Tư 20, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Từ Phước Long đến Buôn Ma Thuột

Buôn Ma Thuột ngày 11-3-1975

Ngày 6-1-1975, quân ta tiến vào đánh sập Phước Long, nơi được xem là bức tường thành vững chắc bảo vệ vành đai Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn phải ngậm ngùi kêu gọi: “Dành ba ngày truy điệu cầu nguyện cho Phước Long”.

  • Khởi đầu cho sự sụp đổ không thể cứu vãn

Theo hồi ức của trung tướng Hoàng Cầm, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 4 thì trung tuần tháng 12-1974, bằng biện pháp nghi binh để quân ngụy Sài Gòn tập trung lực lượng bảo vệ Tây Ninh, quân giải phóng miền Đông đã bất ngờ mở chiến dịch tiến công giải phóng các cứ điểm Bù Đăng, Đồng Xoài, giải phóng đường 14. Tiếp đó, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ đạo cho Bộ Tư lệnh Miền chớp thời cơ mở chiến dịch giải phóng Phước Long.

Rạng sáng ngày 31-12-1974, quân ta tấn công Phước Bình và pháo kích Phước Long. Vương Hồng Anh, cựu sĩ quan biệt kích dù quân đội Sài Gòn kể lại: “Sau khi đánh chiếm được núi Bà Rá, Cộng quân thiết lập ngay đài quan sát pháo binh và sử dụng súng 130 ly bắn vào trung tâm tỉnh lỵ. Trong suốt ngày 2-1, lực lượng trú phòng Việt Nam Cộng Hòa dù chiến đấu quyết liệt nhưng đến 18g cùng ngày thì trạm liên lạc đặt trên núi Bà Rà bị Cộng quân chiếm do đó sự liên lạc viễn thông với thị xã bị mất hẳn”.

Theo lời của Cao Văn Viên, nguyên đại tướng Tổng Tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn ghi lại trong hồi ký thì ngày 2-1, Nguyễn Văn Thiệu chủ trì cuộc họp tại dinh Độc Lập gồm nhiều tướng lĩnh đầu não của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa để đề ra biện pháp tăng cường lực lượng giữ Phước Long. Nhiệm vụ được giao cho Quân đoàn 3 do trung tướng Dư Quốc Đống điều khiển. Trong khi trung tướng Đống và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 đang tiến hành kế hoạch giải cứu Phước Long thì tại tỉnh lỵ, vào ngày 3-1-1975, quân ta đã tăng cường áp lực quanh vòng đai phòng thủ và đánh sập mọi tiếp viện của ngụy quân. Đàm Hữu Phước, sĩ quan quân y Liên đoàn 81 biệt kích dù tăng cường cho Phước Long kể: “Lực lượng biệt kích dù từng được mệnh danh là người hùng An Lộc, lần này không cứu nguy được cho Phước Long mà ngay lập tức rơi vào tình trạng nguy khốn… Trong trận này, anh em đặc huấn biệt cách dù bị thương nhiều. Hầm quân y chật cả thương binh…”. Thế là hết! Phước Long sau bao ngày hấp hối chờ đợi viện binh, đã lịm chết lúc 9g sáng ngày 6-1-1975.

  • Đòn điểm huyệt choáng váng ở Buôn Ma Thuột

Các tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp quân đội Sài Gòn có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về thất bại đau đớn ở Buôn Ma Thuột. Tuy nhiên, một sự thật không thể chối cãi là trong trận đấu này quân đội Sài Gòn đã thua cả trí và lực.

Trịnh Tiếu, đại tá Trưởng phòng 2 của Quân đoàn 2 quân đội Sài Gòn, người chịu trách nhiệm về tình báo của Vùng II cho rằng họ đã khám ra Cộng quân chuẩn bị đánh Buôn Ma Thuột từ tháng 12-1974. Họ còn biết đích xác ngày giờ hành quân và lộ trình hành quân của chúng ta. Tuy nhiên ngụy quân không ngờ trong cuộc hành quân này chúng ta đã cơ mưu linh hoạt hơn địch tưởng. Ngô Văn Xuân, trung tá trung đoàn trưởng Trung đoàn 44 quân đội Sài Gòn cho biết: Mùa xuân năm 1975, Tổng thống Thiệu lệnh cho tướng Phạm Văn Phú đưa toàn bộ Sư đoàn 23 về Buôn Ma Thuột.

Nhưng vào khoảng 8g sáng ngày 17-2-1975, khi đoàn quân tập trung tại căn cứ Hàm Rồng để khởi hành thì có một đợt pháo kích mạnh vào Pleiku và “đến 11g thì tướng Phú cho ra lệnh hủy bỏ việc chuyển quân. Ông nói địch sẽ đánh vào Pleiku và địch chuyển quân nhanh vào Buôn Ma Thuột là để nghi binh mà thôi. Lệnh của tướng Phú đã làm cho cả Quân đoàn 2 ngạc nhiên”. Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên chính ủy mặt trận Tây Nguyên giải thích nguyên nhân sự thay đổi quyết định của tướng Phú là do đã trúng đòn phản gián của ta: “Địch đã bị lừa cho rằng ta đánh Buôn Ma Thuột nên đã đưa Trung đoàn 45 xuống phía Nam.

Bộ Tư lệnh Quân khu 2 ngụy đã nhận bức điện trên cùng lúc với chỉ huy quân sự Tây Nguyên. Đồng thời với bức điện này sáng hôm ấy ta pháo kích Pleiku. Chính những quả pháo và bức điện giả làm tướng Phú hủy bỏ cuộc hành quân. Rõ ràng, địch đã thua ta về chiều sâu của chiến lược và bị ta “lừa” cho rối tung lên. Và dù biết trước được kế hoạch của ta, nhưng Mỹ ngụy cũng không làm sao tránh khỏi một cái thua đau đớn đến như vậy”.

  • Điều gì đã khiến Buôn Ma Thuột thất thủ chóng vánh?

Nguyễn Trọng Luật, đại tá và là Tỉnh trưởng Đắc Lắc, vốn là sĩ quan thiết giáp cứ thắc mắc vì sao ta đưa chiến xa vào Buôn Ma Thuột mà không bị phát hiện. Đến khi đọc “Đại thắng mùa xuân” của Văn Tiến Dũng, nguyên Tư lệnh tiền phương chiến dịch Xuân 1975, Luật mới tá hỏa vì kế vượt rừng bằng cách cưa 2/3 thân cây để ngụy trang của ta. Có lẽ ông Luật cũng như các tướng lĩnh Sài Gòn không biết rút kinh nghiệm lịch sử.

Ba năm trước, quân đội Sài Gòn đã từng thua vỡ mặt vì chiến thuật này cũng trên chiến trường Tây Nguyên. Luật cay đắng kết luận: “Có một cảm nghĩ mà tôi cứ suy nghĩ mãi là các tướng Việt Nam Cộng Hòa có đọc truyện Tàu không, nhất là tướng Phú, để bị cộng sản đánh lừa ở Vùng II. Vì nếu đọc truyện Tàu, chúng ta đều biết trận đánh giữa Hàn Tín và Hạng Võ được gọi “Minh tu Sạn Đạo, ám độ Trần Thương” thì đã không cay đắng chịu trận thua tức tưởi này”.

Mạnh Minh lược ghi

Bài 2: Phan Rang – vỏ trứng mỏng sao ngăn bão lửa?

(*) Tác giả Lê Đại Anh Kiệt, NXB CAND kết hợp với Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa phát hành.

SGGP Online

“Ốc đảo” David giữa Sài Gòn

Tháng Tư 6, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Theo một điều khoản của Hiệp định Paris ký kết ngày 27-1-1973 nhằm lập lại hòa bình ở Việt Nam, có một phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) trong Ủy ban Liên hiệp quân sự bốn bên, đóng ở Sài Gòn để giám sát việc thi hành hiệp định của các bên.

Do sợ ta gây ảnh hưởng chính trị giữa thủ đô ngụy quyền Sài Gòn nên chúng bố trí “trụ sở” của phái đoàn ta trong sân bay Tân Sơn Nhất để cô lập với thế giới bên ngoài, nhất là đối với nhân dân Sài Gòn. Nơi ở của phái đoàn ta là một khu nhà xoàng xĩnh, có tên gọi là trại David. Đã thế, địch còn chăng dây thép gai bao bọc để dễ bề kiểm soát ta.

Phái đoàn quân sự của ta lúc đầu do thiếu tướng Hồ Xuân Anh phụ trách. Tính đến đầu năm 1975, phái đoàn ta sống giữa vòng vây quân địch đã gần 3 năm.

Khu nhà phái đoàn ta ở, nền đất, tường ván, xung quanh rào dây thép gai. Tình huống hiện tại rất khó khăn trong việc đào công sự, giao thông hào. Cán bộ, chiến sĩ phải đào hầm ban đêm, dùng xẻng, cuốc, cọc dây thép gai và cả dao găm để đào. Đất đào lên không chuyển đi đâu được, phải ép xuống nền nhà hoặc cho vào bao tải chất vào kho.

Trước ngày ta mở chiến dịch xuân 1975, trong trại David, ta vẫn duy trì nền nếp sinh hoạt bình thường: giao ban sáng, tập trung công việc cho hai diễn đàn còn lại là diễn đàn của ủy ban quốc tế và diễn đàn dư luận. Anh chị em luôn vững vàng; các bãi thể thao, tăng gia vẫn đông người.

Ban Liên hiệp bốn bên tại trại David năm 1973. Ảnh: T.L.

Đầu năm 1975, phái đoàn ta nhận được điện khẩn của Bộ Chỉ huy Miền thông báo sẽ có một đơn vị đặc công vào để đưa tất cả cán bộ, chiến sĩ ra vùng giải phóng. Đảng ủy đoàn đã họp và lãnh đạo đi đến thống nhất ở lại chiến đấu, tham gia trận đánh cuối cùng, đó là một vinh dự cho người cầm súng.

Quyết tâm của đoàn được cấp trên chấp thuận. Từ ngày 18-4, toàn trại David bắt tay vào công tác tổ chức chuẩn bị chiến đấu. Công sự từng nhà được nối liền với nhau qua hào giao thông, có cả hầm chỉ huy và hầm quân y… tạo thành một khu vực chiến đấu hoàn chỉnh. Việc ta đào hầm hào trong trại David, địch không phát hiện được, mặc dù xung quanh có tới 10 chòi canh và lính canh gác ngày đêm.

Nhân dịp có việc trao đổi với một số nhân viên Ban Liên hiệp quân sự bị mắc kẹt hôm ta đánh Buôn Ma Thuột, Bộ chỉ huy chiến dịch chủ trương đưa ra mấy đồng chí thật cần thiết, còn anh em vẫn ở lại, trong đó có đồng chí trưởng đoàn. Và khi làm kế hoạch cho pháo bắn vào Tân Sơn Nhất, Bộ chỉ huy nhiều lần dặn các đồng chí phụ trách pháo binh bảo đảm an toàn cho khu vực phái đoàn ta.

Chuyện phái đoàn quân sự của ta trú đóng trong trại David tưởng chỉ có thế, ai dè trong những ngày cuối tháng 4-1975 lại trở nên “quan trọng” như vậy.

Trước đây Thiệu ra sức cô lập trại David vốn đã “thất thế” về nhân hòa địa lợi. Đã thế chúng còn giở những trò bỉ ổi như bao vây, khiêu khích, gây nhiều khó khăn cho phái đoàn ta trong công tác và sinh hoạt như cắt điện, nước, không cho tiếp xúc với bên ngoài…

Thế nhưng những ngày này, khi “sa cơ thất thế”, chúng lại mò đến đây cầu cạnh với hy vọng mong manh cứu vớt được chế độ “Việt Nam cộng hòa”. Đại sứ Martin, nhân vật quan trọng nhất lúc này của Mỹ xin được gặp đại diện phái đoàn ta, nhưng bị từ chối. Chúng còn xin phép được bay ra Hà Nội để “thương lượng” ngưng bắn(!), thật trơ tráo hết chỗ nói. Chuyện các sứ giả từ phủ đầu rồng chế độ Sài Gòn đến trại David, mục đích thăm dò việc ngừng bắn mà chúng cho là giải pháp tình thế “tối ưu” lúc này.

Tổng trưởng Nguyễn Văn Diệp kể: “Ngày 28-4, nhóm nhỏ chúng tôi – nhóm Trí Việt, thực chất là nhóm thi hành Hiệp định Paris có họp đánh giá thấy những ngày qua ông Minh quan tâm quá nhiều đến quân sự, gom quân… còn thương thuyết thì chưa thấy đá động gì… Ông Huyền cử tôi chính thức đại diện cho Phó tổng thống đi gặp phái đoàn trong trại David, đặt vấn đề thương thuyết… Ông Nguyễn Đình Đầu phụ tá cho tôi trong chuyến đi này… Khi chúng tôi tới trại David, ở trong hầm, đại úy Tài nói rõ lập trường của Chính phủ Cách mạng lâm thời đã nêu cụ thể trong tuyên bố 20-4-1975”.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu kể thêm: “Thực tế đến lúc đó chúng tôi chưa biết tới bản tuyên bố nên xin phép khẩn trương trở về báo cáo ông Huyền để ra được bản tuyên bố chính thức trên đài. Ông Diệp và tôi thảo bản tuyên bố chấp nhận điều kiện ngưng bắn của mặt trận, mang vào gặp ông Huyền bàn bạc với ông Minh. Khoảng 5 giờ chiều hôm đó, bản tuyên bố đã được phát trên đài Sài Gòn…”.

Ông Nguyễn Đình Đầu kể tiếp: “… Khi đi, ông Huyền đề nghị ông Diệp và tôi cùng vào dinh để ủng hộ tinh thần. Chúng tôi quan sát thấy hai bên đường dân chúng căng thẳng như sắp có trận động đất hay hồng thủy, tiếng súng liên thanh và đại pháo nổ vang… Ông Diệp nói nhỏ với tôi bằng tiếng Pháp: “Il faut se rendre” (Phải đầu hàng thôi)… Khoảng 8 giờ, ông Minh ra chỗ bàn tôi đang ngồi, rồi ông đọc “lời tuyên bố đơn phương hạ vũ khí và bàn giao quyền hành cho Chính phủ Cách mạng lâm thời” vào máy ghi âm. Ít phút sau, ông Huyền bước ra gặp tôi bàn việc “trao quyền” sao cho đỡ xương máu…”.

Ông Nguyễn Văn Diệp tiếp vào: …Ghi băng xong, ông Minh giao cho Tổng trưởng Thông tin Lý Quý Chung đem đến đài phát thanh để phát đi. Vừa lúc đó, đại tá Vanuyxem đến gặp tổng thống:

- Tôi từ Pháp mới đến… hỏi xem tình hình hiện nay ra sao?

Dương Văn Minh:

- Tình hình không hy vọng gì nữa. Để tránh đổ máu vô ích, tôi sắp phát lời tuyên bố bàn giao chính quyền lại cho Chính phủ Cách mạng lâm thời.

Vanuyxem:

- Không phải hết hy vọng đâu. Tôi đã thu xếp xong ở Paris…

Dương Văn Minh một mực từ chối “kế hoãn binh” của Vanuyxem và cảm ơn, chào tiễn biệt.

Vanuyxem vừa đi khỏi thì ông Minh kêu Lý Quý Chung vào bảo đi phát lời tuyên bố đã ghi âm. Trong không khí im lặng nặng nề, tự nhiên ông Minh thốt lên:

- Chúng ta đã bán nước cho Mỹ rồi. Bây giờ họ lại bắt chúng ta bán nước cho nước khác nữa… Thôi, bây giờ chúng ta đến Dinh Độc Lập đi, còn chuẩn bị bàn giao!

Đúng giờ phút ấy, các sĩ quan quân đội cách mạng bước vào nói lớn:

- Các ông không còn gì để bàn giao, phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện!

Cũng giờ phút ấy, nhiệm vụ của phái đoàn quân sự ta ở trại David đã kết thúc một cách tốt đẹp. Câu chuyện của các “sứ giả” tân chính phủ Dương Văn Minh đã khép lại chương cuối của một cuộc chiến tranh.

“Ốc đảo” David đã trở thành ký ức của những chiến sĩ quân đội cách mạng kiên cường hiên ngang trong lòng địch, như một khoảng trầm trong bản hòa ca Đại thắng mùa xuân 1975

LAM GIANG

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.