Lưu trữ

Posts Tagged ‘Việt Nam’

Những chiến công xuất sắc của lực lượng CAND Việt Nam

Tháng Một 29, 2012 Phản hồi đã bị khóa

Đập tan âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân non trẻ

Nhân kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống Công an Nhân dân (CAND), Báo Thanh Niên xin giới thiệu những chiến công xuất sắc của lực lượng CAND Việt Nam vì nước quên thân, vì dân quên mình…

Tháng 6.1946, theo Hiệp ước Hoa – Pháp, quân Tưởng rút về nước, để quân Pháp vào miền Bắc thay thế. Bọn phản động tay sai của Tưởng một số thì chạy theo sang Trung Quốc, một số ở lại làm tay sai cho Pháp. Chúng tập hợp lực lượng lập ra Quốc dân đảng Việt Nam do Vũ Hồng Khanh làm đảng trưởng, Trương Tử Anh là thường vụ. Dựa vào Pháp, tổ chức phản động này ráo riết hoạt động nhằm chống phá chính quyền nhân dân còn non trẻ của ta.

Cuối tháng 6.1946, Nha Công an Trung ương đã phát hiện sự câu kết giữa Pháp và bọn phản động Quốc dân đảng Việt Nam. Nha Công an họp bàn kế hoạch quét tất cả trụ sở Quốc dân đảng Việt Nam để khám phá âm mưu của chúng, nhưng Trung ương chỉ đạo việc trấn áp phải có chứng cứ cụ thể để khỏi mắc mưu khiêu khích của địch. Nhận được nguồn tin bọn Quốc dân đảng Việt Nam đang khẩn trương in tài liệu, truyền đơn phản động trong trụ sở 132 Đuy- vi- nhô (nay là phố Bùi Thị Xuân), đêm 12.7.1946, Nha Công an quyết định bí mật đột nhập vào trụ sở để lấy chứng cứ. Tại đây, lực lượng công an đã bắt toàn bộ bọn phản động, tịch thu các loại tài liệu như truyền đơn, khẩu hiệu, thông cáo chúng vừa in xong; đặc biệt là bản tài liệu do Trương Tử Anh viết về “Kế hoạch đảo chính Chính phủ Hồ Chí Minh”. Theo kế hoạch, đến ngày kỷ niệm Quốc khánh nước Pháp (14.7.1946), chúng đề nghị Chính phủ Việt Nam cho được diễu binh trên một số đường phố Hà Nội, bọn Quốc dân đảng Việt Nam sẽ ném lựu đạn vào quân lính da đen, gây đổ máu. Lấy cớ đó, Pháp đổ lỗi cho ta không giữ được an ninh, trật tự, chống lại quân đồng minh và quân Pháp sẽ ập ngay vào Bắc bộ phủ bắt giữ các thành viên chính phủ, tuyên bố đảo chính, lập ngay một chính phủ của Quốc dân đảng Việt Nam.

Trước những bằng chứng rõ ràng, lực lượng công an phối hợp với các lực lượng khác tiến công truy quét bọn phản cách mạng tại 40 trụ sở của chúng ở địa bàn Hà Nội. Tại trụ sở nhà số 7 phố Ôn Như Hầu (nay là Nguyễn Gia Thiều), lực lượng công an bắt Phan Kích Nam và đồng bọn, giải thoát cho những người bị chúng bắt chưa kịp thủ tiêu, thu nhiều tài liệu phản động, dụng cụ tra tấn, dụng cụ làm bạc giả, thuốc mê và đào được 6 xác người bị chúng giết chôn ngay trong vườn. Tại nhà số 80 phố Quán Thánh, trong khi lực lượng công an tiến hành khám xét, quân Pháp đưa xe tăng đến can thiệp, uy hiếp. Trước chứng cứ đầy đủ và sự đấu tranh của quần chúng nhân dân buộc Pháp phải rút lui. Lực lượng công an đã thu được nhiều tài liệu phản động và bắt 30 tên phản quốc. Trong cuộc truy quét bọn phản động cách mạng ở Hà Nội, lực lượng công an bắt gần 100 tên, trong đó có nhiều tên nguy hiểm như Phan Kích Nam, Nghiêm Kế Tổ…

Cuộc tiến công thắng lợi trụ sở Quốc dân đảng Việt Nam ở phố Ôn Như Hầu đã đập tan âm mưu của thực dân Pháp câu kết với bọn phản động định lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ. Cuộc chiến đấu của các lực lượng công an đã góp phần giam chân địch trong thành phố. Đây là những chiến công đầu vẻ vang của CAND Việt Nam. Đánh giá việc khám phá vụ án trên, nguyên Tổng Bí thư Trường Chinh từng viết: “Mấy cuộc khám bắt vừa đây cắm một cái mốc trên con đường thống nhất dân tộc và biểu lộ sức mạnh, uy tín của chính quyền nhân dân. Các báo hoan nghênh Chính phủ và công chúng tán thưởng việc làm của Ty Công an, đã tỏ rằng đồng bào ta đã có ý thức về chính trị…”

Đánh đắm Thông báo hạm Amiôđanhvin

Cuối năm 1947, sau khi bị thất bại trong cuộc hành quân lên Việt Bắc, thực dân Pháp chuyển hướng từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang đánh lâu dài, sử dụng “con bài” Bảo Đại lập chính phủ bù nhìn theo “lý tưởng quốc gia”, trao trả độc lập giả hiệu cho Việt Nam.

Nắm được ý đồ đó của địch, Ty điệp báo Nha Công an trung ương đã khéo léo lần lượt đưa các điệp viên Hoàng Đạo, Kim Sơn vào hoạt động trong lòng địch. Mặc dù địch có nhiều thủ đoạn kiểm tra thử thách, nhưng các cán bộ công an đã vượt qua và gây được tín nhiệm cao trong hàng ngũ chỉ huy của cơ quan tình báo quân sự, tình báo chiến lược, Bộ tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương và bọn cầm đầu các đảng phái phản động. Với vai trò, uy tín tạo được, các cán bộ, chiến sĩ công an đã bố trí một “chiến khu” giả, mở đại hội “đảng Phục Việt” để mời một số tên cầm đầu “Đại Việt Quốc dân đảng” ra thăm. Pháp và Bảo Đại đặt nhiều hy vọng vào “đảng Phục Việt”. Bảo Đại phong cho Hoàng Đạo chức “Quốc vụ khanh” và Kim Sơn là đại úy “Võ phòng ngự lâm quân”.

Thực dân Pháp có mưu đồ đánh chiếm vùng tự do Thanh – Nghệ – Tĩnh từ lâu, nay có “chiến khu quốc gia” của “đảng Phục Việt” liền chớp thời cơ để thực hiện mưu đồ đó. Trong cuộc “hội đàm”, Trung tướng A-lếch-xăng-đơ-ri và thủ lĩnh “đảng Phục Việt” là Hoàng Đạo bàn về “giải phóng khu IV”, Pháp đã thỏa thuận cung cấp vũ khí, tiền bạc cho “chiến khu quốc gia” để “đảng Phục Việt” đảm nhiệm cuộc “giải phóng” khu IV. Trước tình hình đó, Trung ương Đảng chỉ đạo : “Không nên gây cho Pháp một ảo tưởng ở vùng hậu phương của ta lại có một lực lượng ly khai chống lại kháng chiến”. Thực hiện ý kiến của T.Ư Đảng, ngày 26.9.1950, Ty điệp báo Nha Công an Trung ương chỉ đạo tổ điệp báo điều được 3 tên cầm đầu là Đinh Xuân Cầu, Nguyễn Văn Hưởng và Nguyễn Quang Minh ra vùng tự do Thanh Hóa để bắt, khai thác và trừng trị, đồng thời tổ chức đánh đắm Thông báo hạm Amiôđanhvin của Pháp.

Lúc 3 giờ sáng ngày 27.9.1950, Tổ điệp báo gồm các đồng chí Hoàng Đạo, Kim Sơn, Nguyễn Thị Lợi trong vai “vợ Quốc vụ khanh Hoàng Đạo” và đồng chí Hải mang vali có chứa 30 kg thuốc nổ lên Thông báo hạm để ra Hà Nội. Sau khi bố trí xong vali thuốc nổ, các đồng chí trong tổ chia tay đồng chí Lợi ở lại. 30 phút sau, Thông báo hạm Amiôđanhvin bị nổ tung, 200 lính và sĩ quan Pháp cùng hàng trăm tấn vũ khí, quân trang, quân dụng bị nhấn chìm xuống vùng biển Sầm Sơn, Thanh Hoá. Chiến sĩ điệp báo Nguyễn Thị Lợi đã anh dũng hy sinh trong trận này.

Chiến công đánh đắm Thông báo hạm Amiôđanhvin là một trong những chiến công tiêu biểu của lực lượng CAND, đã góp phần đập tan âm mưu của Pháp và tay sai hòng xây dựng “chiến khu quốc gia” đánh chiếm vùng tự do Thanh – Nghệ – Tĩnh, phá mưu đồ mua chuộc, lôi kéo những người “kháng chiến ly khai” Chính phủ Việt Minh trở về với chính phủ quốc gia bù nhìn.

“Hốt” trọn ổ gián điệp Mỹ

Tháng 3.1955, Công an Hải Phòng nắm được nguồn tin một gián điệp tên Đức được Pháp đưa đi nước ngoài, nay thấy xuất hiện ở TP. Hải Phòng. Tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, lực lượng công an biết tên Đức trú tại số nhà 47 phố Ga có quan hệ với tên Lẫm và tên Tiền cùng đi nước ngoài với tên Đức trở về. Chúng thường liên hệ với nhau ở địa chỉ 14 phố Ga, 27 Bờ Sông Lấp và 120G ngõ Đông An. Tại các địa điểm đó, lực lượng công an đều phát hiện có vũ khí, máy thông tin liên lạc cất giấu.

Cùng thời gian trên, tại Hà Nội, lực lượng công an phát hiện tên Cao Xuân Trung (em Cao Xuân Tuyên, gián điệp của Pháp) và các đối tượng Cập (Trần Minh Châu), Riu, Đích thường lén lút đến hiệu cắt tóc của tên Lan ở số 9 Hàng Mành. Chúng đã họp bàn nhiều lần về việc đón đồng bọn từ nước ngoài về, từ Hải Phòng lên; phân công tên Riu và tên Đích về TP. Nam Định họat động.

Thấy rõ hoạt động nguy hiểm của các đối tượng, Bộ Công an đã lập chuyên án đấu tranh với toán gián điệp cài lại nhằm phát hiện âm mưu, tổ chức và họat động của chúng. Khi mạng lưới địch có sự mở rộng, lực lượng công an đã bắt một số tên và bí mật thu một số vũ khí, điện đài của địch; đồng thời cử cán bộ vào tận miền Nam để nắm tình hình về âm mưu và sự chỉ đạo của chúng. Qua nhiều nguồn tin, lực lượng công an biết tình báo Mỹ đã bắt đầu chỉ đạo bọn gián điệp cài lại thực hiện kế hoạch phá hoại. Chúng đã cho mìn vào một viên than dùng cho tàu hỏa ở ga Hải Phòng để phá hoại sự vận chuyển của ta.

Ngày 11.11.1958, Bộ Công an quyết định phá án. Tại Hà Nội, Hải Phòng và Nam Định, lực lượng công an đã đồng loạt bắt các tên cầm đầu và bọn tay sai của tổ chức gián điệp, thu toàn bộ điện đài, vũ khí và phương tiện hoạt động của chúng. Khai thác những tên gián điệp bị bắt, chúng khai ra từ tháng 9.1954, Cục Tình báo Trung ương Mỹ đã tuyển chọn một số tên phản động trong “đảng Đại Việt” để đưa đi đào tạo tại đảo Guam rồi lợi dụng thời hạn tập kết 300 ngày đưa trở lại miền Bắc Việt Nam hoạt động. Nhiệm vụ của chúng là thu thập tin tức tình hình chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội báo về trung tâm của chúng ở miền Nam Việt Nam; sử dụng vũ khí được địch chôn giấu từ trước để phá hoại, ám sát cán bộ và nổi dậy lật đổ chính quyền khi có điều kiện. Chúng hoạt động thành 3 tổ ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định. Cầm đầu tổ chức gián điệp này là Trần Minh Châu (tức Cập). Ngày 4.4.1959, ta đã đưa bọn gián điệp bị bắt ra xét xử, trừng phạt thích đáng.

Phanh phui mạng lưới gián điệp

Phá chuyên án gián điệp biệt kích Mỹ

Nhằm gây rối an ninh trật tự ở miền Bắc Việt Nam, ngày 11.5.1961, Tổng thống Mỹ Kennedy ra lệnh triển khai “Chiến dịch chiến tranh bí mật”, thực hiện cái gọi là “đánh vào nguồn gốc xâm lược” từ Bắc Việt Nam.

Đêm 27.5.1961, Mỹ tung toán gián điệp biệt kích đầu tiên mang tên “Caster” nhảy dù xuống điểm cao 828 thuộc bản Hỷ, xã Phiềng Ban, châu Phù Yên, tỉnh Nghĩa Lộ (nay là tỉnh Sơn La). Lực lượng công an và dân quân địa phương đã phát hiện và truy bắt toàn bộ toán gián điệp gồm 4 tên do Hà Văn Chấp, dân tộc Thái chỉ huy.

Để tìm hiểu âm mưu, hoạt động gián điệp biệt kích của Mỹ- Ngụy, lực lượng công an đã quyết định thành lập chuyên án (mang bí số PY27) để khống chế, kiểm soát đường liên lạc của toán “Caster” với trung tâm chỉ huy miền Nam. Sử dụng chiến thuật “câu nhử”, lúc 12 giờ ngày 9.6.1961, lực lượng công an đã chỉ đạo toán gián điệp “Caster” liên lạc với trung tâm chỉ huy. Mấy ngày sau, địch đã cho 1 máy bay tiếp tế cho “Caster” nhưng gặp tai nạn rơi xuống nông trường Bình Minh, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Ta bắt sống 8 tên, 2 giặc lái bị chết.

Ngày 16.5.1962, địch tung tiếp toán gián điệp biệt kích “Tonbillow” xuống bãi thả ở Tân Lập, Mộc Châu, Sơn La. Lực lượng công an bắt 8 tên và quyết định lập tiếp chuyên án (mang bí số KS16) đấu tranh với toán gián điệp này. Để gây lòng tin với địch, giữ bí mật cho chuyên án KS16, lực lượng công an đã cung cấp cho địch nhiều tin tức giả và cho toán “Caster” tiến hành phá hoại một số mục tiêu ít quan trọng. Xét thấy chuyên án PY27 đã phát huy kết quả tốt và địch nghi ngờ, ngày 23.12.1966, lực lượng công an quyết định kết thúc chuyên án này nhằm bảo vệ cho chuyên án KS16 tồn tại và phát triển, bảo vệ được địa bàn vùng Tây Bắc. Từ năm 1961 đến 1970, lực lượng công an đã lập 21 chuyên án đấu tranh, bắt 78 toán gián điệp biệt kích gồm 463 tên, thu nhiều tấn vũ khí, chất nổ, phương tiện và lương thực, thực phẩm, thuốc men của địch.

* Kế hoạch CM12

Tháng 2.1976, Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh- nguyên là sĩ quan ngụy, từng làm gián điệp cho Pháp và Mỹ đã di tản sang Pháp đứng ra lập tổ chức phản động “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Việt Nam”. Được sự nuôi dưỡng, yểm trợ của nhiều cơ quan tình báo gián điệp nước ngoài và bọn phản động quốc tế, chúng ráo riết tập hợp một số tên phản động người Việt lưu vong để phát triển lực lượng, tìm đường trở về Việt Nam âm mưu gây bạo loạn cục bộ, tiến hành nội chiến, kết hợp với các hoạt động gây sức ép với Việt Nam về chính trị và quân sự từ bên ngoài. Địa bàn hoạt động chính của chúng là các tỉnh Minh Hải, Cà Mau, Kiên Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, Sông Bé và vùng rừng Sác Nam bộ.

Phát hiện được âm mưu, ý đồ đó của chúng, Bộ Công an đã quyết định thành lập chuyên án đấu tranh mang tên “Kế họach CM12”, vừa để tìm hiểu âm mưu chiến lược của các thế lực thù địch, vừa đấu tranh đập tan các hoạt động của chúng, bóc gỡ những cơ sở phản động ở trong nước.

Gần 4 năm liên tục đấu tranh, lực lượng công an đã chủ động đón bắt 10 toán thâm nhập của địch gồm 146 tên, trong đó có 2 tên cầm đầu là Mai Văn Hạnh và Trần Văn Bá, thu 143 tấn vũ khí các loại, 16 điện đài, 300 triệu đồng tiền Việt Nam giả và 2 tàu thâm nhập. Ở nội địa, lực lượng công an đã điều tra, phát hiện, phá nhiều tổ chức phản động và bóc gỡ hầu hết các cơ sở của chúng.

Tháng 12.1984, Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên tòa công khai xét xử bọn phản động nói trên tại TP. Hồ Chí Minh, đập tan âm mưu phá hoại và lật đổ của bọn phản cách mạng, góp phần giữ vững ổn định chính trị của đất nước.

Như Lịch (ghi từ nguồn tài liệu của Lực lượng CAND)

thanhnien.com.vn

Kết hợp linh hoạt các hình thức tác chiến, kìm chân địch

Tháng Một 16, 2012 Phản hồi đã bị khóa

QĐND - Đêm 22 rạng sáng 23-9-1945, thực dân Pháp nổ súng tiến công các cơ quan chính quyền cách mạng ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Nhằm chủ động đối phó với âm mưu, thủ đoạn của địch, Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ lệnh cho các sư đoàn Cộng hòa vệ binh và sư đoàn Dân quân cách mạng rút ra vùng ngoại ô. Tại nội thành Sài Gòn có 320 đội tự vệ chiến đấu và một số tiểu đoàn Cộng hòa vệ binh tuần tra canh gác công sở. Tuy mới hình thành, tổ chức còn phân tán, trang bị thô sơ, nhưng với tinh thần yêu nước nhiệt tình cách mạng, các đơn vị vũ trang Nam Bộ đã quyết tâm chiến đấu, bảo vệ nền độc lập của dân tộc.

Thực hiện chỉ đạo của Trung ương Đảng, Xứ ủy Nam Bộ lãnh đạo, chỉ đạo LLVT các địa phương phối hợp tác chiến, uy hiếp và quấy rối, đánh địch ở mọi nơi, nhất là trong thành phố Sài Gòn; phá hoại cơ sở vật chất và phương tiện chiến tranh của địch; ngăn chặn việc chuyển quân, vũ khí từ Nam Bộ ra Trung Bộ, Bắc Bộ. Sau khi tiếng súng toàn quốc kháng chiến bùng nổ, quân và dân Nam Bộ đẩy mạnh các hoạt động tiến công địch, nhiều trận đột kích vào Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, sân bay Tân Sơn Nhất và trên đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho. Các cuộc chiến đấu và tiêu diệt ác ôn, tay sai kết hợp với hoạt động “kinh tế chiến”, “giao thông chiến” liên tiếp diễn ra. Kháng chiến kết hợp với phong trào đấu tranh của quần chúng như đình công, bãi khóa, bãi thị của công nhân, học sinh và nhân dân; công nhân phối hợp với LLVT phá hoại đường giao thông và nhiều máy móc, nguyên liệu, cơ sở hậu cần của địch. Vì vậy, suốt mấy tháng liền, gần 40 nghìn quân địch bị giam chân ở Nam Bộ, không đáp ứng được yêu cầu tăng viện cho chiến trường miền Bắc.

 LLVT miền Đông Nam Bộ tại chiến khu An Phú Đông (Sài Gòn, Gia Định). Ảnh tư liệu.

Vừa triển khai chiến đấu tiêu diệt sinh lực địch, các chi đội Vệ quốc, đơn vị vũ trang đồng thời vừa xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài ở Nam Bộ, nhờ đó, Chiến khu Đ phát triển thành căn cứ kháng chiến của thành phố Biên Hòa và cả Quân khu 7, miền Đông Nam Bộ. Các chi đội mở đợt tiến công, kết hợp với vũ trang tuyên truyền sâu rộng trong các thị trấn, thành phố, thị xã, chỉ rõ sự xảo trá, âm mưu xâm lược của thực dân Pháp. Đại đội 1, Chi đội 10 bất ngờ tập kích bốt Tân Uyên, phục kích diệt viện binh trên Đường 16, tiêu diệt hai trung đội lính lê dương và bảo an. Đại đội 2, Chi đội 10 tiến công đồn miếu Ba Cô. Đại đội 3 phục kích đường Cây Đào, đón lõng Rạch Đông, diệt gọn đại đội viện binh của quân “mũ đỏ”. Chi đội 1 cùng bộ đội địa phương tiến công vào thị trấn, đánh các đồn cảnh sát, lính bảo an dọc Đường số 1 qua cầu Biên Hòa. Bộ đội Tô Ký, Vũ Đức tập kích vào các đồn bốt địch ở ngoại vi thành phố Biên Hòa, diệt hơn 300 tên địch.

Những trận đánh ác liệt nổ ra liên tiếp ở các khu vực, các đường giao thông huyết mạch gây cho địch nhiều tổn thất. Nhằm ổn định tình hình, ngày 18-2-1947, Pháp cho quân mở trận càn vào căn cứ Chiến khu Đ, huy động hai lữ đoàn lính lê dương tiến công vào căn cứ kháng chiến bằng ba mũi kết hợp, đổ quân dù xuống Mỹ Lộc, đánh úp cơ quan đầu não Việt Minh, nhằm tiêu diệt toàn bộ ý chí kháng chiến của ta. Với tinh thần quật khởi, LLVT phối hợp với nhân dân địa phương, sử dụng chông sắt, địa lôi cài cắm sẵn trên các con đường địch tiến vào, kết hợp với vũ trang tuyên truyền, du kích địa phương chủ động bám địch, dồn địch vào mà đánh. Các chi đội, tiểu đoàn chủ lực, chi đội địa phương tiến công địch dồn dập trên các hướng đã chuẩn bị và bố trí sẵn, diệt hàng trăm tên địch. Đêm 20-3-1947, Chi đội 10 bất ngờ tập kích diệt gọn đồn Đất Quốc, nhổ bật cái gai tại trung tâm kháng chiến, giải tỏa sự vây ép của địch.

Quân và dân Nam Bộ chiến đấu kiên cường, dũng cảm, phối hợp với chiến trường toàn quốc, đã kìm chân được quân Pháp một thời gian tương đối dài, làm chậm bước tiến của địch. Nhờ đó, quân và dân Nam Bộ có thời gian giải quyết hàng loạt nhiệm vụ quan trọng như tản cư dân, vận chuyển kho tàng, bổ sung thêm lực lượng và rút được kinh nghiệm để tiếp tục tổ chức đánh giặc, đồng thời tạo điều kiện cho các địa phương trong khu vực, cũng như cả nước có thời gian bước vào cuộc chiến đấu trường kỳ chống thực dân Pháp. Thắng lợi về quân sự, chính trị trong thời kỳ đầu kháng chiến ở Nam Bộ có ý nghĩa lớn, là cơ sở để từng bước hình thành và phát triển nghệ thuật tác chiến trong điều kiện mới, với đối tượng tác chiến mạnh hơn ta nhiều lần.

Đại tá Đào Văn Đệ

qdnd.vn

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu: Một thực tế lịch sử không thể phủ nhận

Tháng Một 5, 2012 Phản hồi đã bị khóa

Kỷ niệm ngày chiến thắng chế độ diệt chủng ở Cam-pu-chia (7-1-1979) và Năm hữu nghị Việt Nam – Cam-pu-chia 2012

QĐND - Nhân dịp kỷ niệm Ngày chiến thắng chế độ diệt chủng Pôn Pốt (7-1-1979) và Năm Hữu nghị Việt Nam – Cam-pu-chia 2012, nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu – người đã có hơn 11 năm công tác, chiến đấu, giúp đỡ nhân dân Cam-pu-chia đã dành thời gian trò chuyện với phóng viên Báo Quân đội nhân dân một số vấn đề xung quanh sự kiện này. Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu đến bạn đọc nội dung cuộc trò chuyện trên.

Phóng viên (PV): Kính thưa đồng chí, sự kiện ngày 7-1 gợi lại cho đồng chí điều gì nhớ nhất về nhân dân Cam-pu-chia?

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu: Trước hết, tôi phải khẳng định lại điều này: Ba nước Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia có lịch sử gắn bó rất lâu đời với nhau trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước của mỗi dân tộc. Trong chiều dài lịch sử ấy, nhân dân ba nước đã “chung lưng đấu cật” để xây dựng mỗi nước phát triển. Đặc biệt, trong nhiều giai đoạn lịch sử, ba dân tộc Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia đều có chung một kẻ thù xâm lược. Vị trí địa lý và lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của mỗi dân tộc đã gắn kết ba nước trở nên gần gũi, thân thiện. Theo đó, quá trình chiến đấu của mỗi nước phải dựa vào nhau để chống kẻ thù chung, bảo vệ dân tộc, bảo vệ đất nước. Vì vậy, nhân dân Cam-pu-chia đối với nhân dân Việt Nam, cũng như nhân dân Cam-pu-chia đối với Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam luôn sát cánh bên nhau chống lại kẻ thù chung vì độc lập của mỗi nước, vì hạnh phúc của nhân dân và mỗi dân tộc.

Đặc biệt, trong các cuộc kháng chiến trường chinh của dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam, QĐND Việt Nam luôn được nhân dân Cam-pu-chia ủng hộ, giúp đỡ với một sự giúp đỡ vô tư, trong sáng, hết mình. Sự giúp đỡ của nhân dân Cam-pu-chia cũng giống như nhân dân Lào giúp đỡ chúng ta trong kháng chiến là điều hết sức đáng quý, đáng trân trọng. Vì thế, nhân dân Việt Nam không bao giờ quên sự giúp đỡ của nhân dân Cam-pu-chia. Cũng như nhân dân Việt Nam không bao giờ quên sự giúp đỡ của nhân dân Lào. Đó là sự tiếp nối lịch sử truyền thống của ba dân tộc Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia. Tuy quá trình phát triển đất nước mỗi nước có đặc thù riêng, nhưng cái chung là khát vọng hòa bình và trong nhiều thời điểm có chung một kẻ thù xâm lược. Khi đã nói tới ba nước cùng chống kẻ thù chung thì không thể đặt vấn đề là ai giúp ai mà đó là trách nhiệm chung của nhân dân ba nước. Nhân dân Việt Nam giúp nhân dân Cam-pu-chia và ngược lại. Vì thế, khi QĐND Việt Nam chiến đấu, công tác trên đất Cam-pu-chia được nhân dân Cam-pu-chia coi như con em của mình. Tình cảm và sự giúp đỡ vô tư, trong sáng của nhân dân Cam-pu-chia đối với nhân dân Việt Nam, QĐND Việt Nam là điều không phải riêng tôi, mà tất cả những ai đã từng có thời gian ở Cam-pu-chia đều luôn ghi nhớ. Điều này không chỉ là sự ghi nhớ đơn thuần mà trong sâu thẳm còn là sự biết ơn nhân dân Cam-pu-chia.

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu

PV: Thưa đồng chí! Đã hơn 30 năm trôi qua, nhưng việc quân tình nguyện Việt Nam giúp đỡ nhân dân Cam-pu-chia lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt vẫn bị các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc. Vậy, theo đồng chí, sự kiện này được hiểu như thế nào cho đúng?

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu: Để có được cái nhìn đúng đắn, khách quan về sự kiện này, cần phải nhìn rộng hơn, xa hơn. Thực tế, trước ngày 17-4-1975, QĐND Việt Nam cũng đã giúp các lực lượng của Cam-pu-chia giải phóng đất nước, trong đó có cả Pôn Pốt. Thậm chí, lúc đó QĐND Việt Nam và các lực lượng giải phóng của Cam-pu-chia còn cùng ăn, cùng ở với nhau. Lý do để giải thích điều này như phần trên tôi đã đề cập. Phải khẳng định rằng: Đó là sự giúp đỡ hết sức vô tư, trong sáng của QĐND Việt Nam, của nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Cam-pu-chia vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân Cam-pu-chia. Thời điểm đó, nhân dân Cam-pu-chia đối với QĐND Việt Nam cũng chính như nhân dân Việt Nam đối với quân đội mình. Chúng tôi cũng ở trong nhà dân, sinh hoạt cùng nhân dân, lao động cùng nhân dân, được nhân dân che chở để đánh giặc cứu nước. Nhân dân Cam-pu-chia không chỉ giúp đỡ, nuôi dưỡng, ủng hộ, mà còn hy sinh tính mạng để bảo vệ QĐND Việt Nam, nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, sau ngày 17-4-1975, khi đã giành được chính quyền, thì tập đoàn Pôn Pốt trở mặt, ra tay sát hại chính đồng bào mình, nhân dân mình. Điều này lúc đầu chúng ta không thể hiểu nổi và cũng chưa bao giờ dự tính tới. Bởi chính nhân dân Cam-pu-chia là những người đã sát cánh cùng các lực lượng, trong đó có cả lực lượng của Pôn Pốt, không tiếc của cải, máu xương của mình đứng lên chống kẻ thù xâm lược, giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc. Đặc biệt, sau này khi QĐND Việt Nam theo lời gọi khẩn thiết của nhân dân Cam-pu-chia tiến công đánh đuổi Pôn Pốt, được chứng kiến những gì mà chúng gây ra cho chính nhân dân Cam-pu-chia thì hết sức ghê tởm và căm phẫn. Càng căm phẫn Pôn Pốt bao nhiêu, chúng tôi càng thương người dân Cam-pu-chia bấy nhiêu.

Tôi xin trở lại thời điểm ngày 17-4-1975 – ngày mà thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng. Sau ngày đó, nhân dân Cam-pu-chia đang hết sức vui mừng thì Pôn Pốt thực hiện chính sách đuổi nhân dân, giết hại đồng bào mình, lập trại lính. Đặc biệt, Pôn Pốt sử dụng các hình thức giết hại nhân dân Cam-pu-chia hết sức dã man. Tiếp đó, chúng mở cuộc tiến công xâm lược trên toàn tuyến biên giới Việt Nam. Trước tình hình đó, chúng ta không thể khoanh tay đứng nhìn kẻ thù xâm lược đất nước, giết hại đồng bào ta trên dọc tuyến biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia; đặc biệt càng không thể chấp nhận sự tàn sát dã man của Pôn Pốt đối với nhân dân Cam-pu-chia. Bởi vậy, chúng ta đã đáp trả bằng những trận phản công, đánh bật kẻ thù ra khỏi biên giới. Mặt khác, với tình cảm, trách nhiệm và những giá trị lịch sử đã được nhân dân hai nước vun đắp, tạo dựng nên trong suốt chặng đường dài, cùng lời đề nghị khẩn thiết của chính người dân Cam-pu-chia, QĐND Việt Nam đã tiến công tiêu diệt lực lượng Pôn Pốt đến sào huyệt cuối cùng. Việc làm đó không chỉ là hành động bảo vệ lãnh thổ của Tổ quốc chúng ta, mà còn là trách nhiệm của lương tri, là ý nguyện của người dân Cam-pu-chia và là hành động diệt trừ một mầm họa lớn cho nhân loại. Đó là một thực tế lịch sử không thể phủ nhận.

Sau chiến thắng 7-1-1979, nhân dân Cam-pu-chia thực sự được giải phóng. QĐND Việt Nam đã giúp đỡ nhân dân Cam-pu-chia xây dựng lại cuộc sống của mình. Một cuộc sống mới mà suốt những năm Pôn Pốt cầm quyền, họ chưa từng một ngày ăn ngon, ngủ yên. Tôi nêu một ví dụ này để minh chứng. Nhiều em bé vì đói, vì rét, vì bị thương đang kêu khóc thảm thiết, nhưng nếu nghe ai đó nhắc tới hai tiếng “Pôn Pốt” là nó im bặt. Nỗi khiếp đảm do Pôn Pốt gây ra không chỉ đối với người lớn mà còn hằn rõ trong bộ óc ngây thơ của các em nhỏ. Chúng tàn ác đến thế, sao mình lại không giúp nhân dân Cam-pu-chia trừ họa. Quả thật, trong điều kiện ấy, chỉ những ai không có lương tri; chỉ những ai không phải là “con người” mới thờ ơ khoanh tay đứng nhìn nhân dân Cam-pu-chia bị giết hại. Thật đáng xấu hổ cho những suy nghĩ bẩn thỉu và bần tiện đó.

PV: Đến nay, vẫn có ý kiến cho rằng: Thời điểm đó, chỉ cần chúng ta giúp Cam-pu-chia lật đổ chế độ Pôn Pốt là hoàn thành nghĩa vụ và không cần có một thời gian ở  lại Cam-pu-chia lâu đến thế. Vậy đồng chí có nhận xét gì về điều này?

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu: Nếu vẫn suy nghĩ như thế tôi cho rằng, đó là những người chỉ thấy được cái trước mắt, mà không nhìn ra cái lâu dài, cái căn bản. Ngày đó, đất nước Cam-pu-chia dưới chế độ do Pôn Pốt cai trị trở nên hết sức tan hoang, kiệt quệ về nhiều mặt. Thậm chí, khi chúng tôi có mặt ở Phnôm Pênh, nhân dân không còn một chiếc bát tử tế để dùng. Họ chủ yếu lấy vỏ quả dừa để làm bát. Đặc biệt, lực lượng cách mạng do Đảng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia lãnh đạo còn hết sức non trẻ. Nếu khi đó, QĐND Việt Nam rút về ngay thì thảm họa do Pôn Pốt trút xuống đầu người dân Cam-pu-chia còn tàn bạo hơn, dã man hơn trước đó. Đặc biệt, khi đó QĐND Việt Nam không chỉ tiếp tục giúp đỡ lực lượng cách mạng truy đuổi tàn quân Pôn Pốt, mà còn trực tiếp tham gia tổ chức lại cuộc sống cho nhân dân. Nhiều loại giống cây trồng, vật nuôi, thậm chí là những công cụ lao động thô sơ nhất như cái cuốc, cái cày, con trâu… đều được đưa từ Việt Nam sang để giúp bạn. Đó là lý do vì sao mãi tận năm 1989, chúng ta mới quyết định rút toàn bộ quân tình nguyện Việt Nam từ Cam-pu-chia về nước. Và kể từ ngày đó, mối đoàn kết, gắn bó giữa hai nước, nhân dân hai nước Việt Nam – Cam-pu-chia càng trở nên mật thiết. Mối đoàn kết gắn bó đó không phải ngẫu nhiên mà có, mà nó được xây đắp bằng những giá trị của lịch sử, bằng máu xương của nhân dân và quân đội hai nước. Một sự hợp tác toàn diện, thủy chung, vô tư, trong sáng vì mục tiêu cao cả: Sự phát triển phồn vinh của mỗi nước, vì hạnh phúc của nhân dân, vì lợi ích của mỗi dân tộc. Tôi cho rằng: Dù có nói bao nhiêu cũng không hết, viết bao nhiêu cũng không đủ, lịch sử phát triển của hai dân tộc, hai nước chính là bằng chứng sinh động, cho chúng ta câu trả lời xác thực nhất. Đúng như Thủ tướng Hun Xen đã khẳng định tại lễ khánh thành Khu di tích lịch sử địa điểm thành lập Đoàn 125 vừa qua: Đó là một phần lịch sử không thể lãng quên…

PV: Xin trân trọng cảm ơn đồng chí!
NGỌC LONG  DUY THÀNH (thực hiện)

qdnd.vn

Sự thật về chặng đường dẫn đến ngày 19-12-1946 (Tiếp theo và hết)

Tháng Mười Hai 22, 2011 Phản hồi đã bị khóa

QĐND - Không phải ngẫu nhiên mà đúng vào dịp này, Pa-ri thay tướng cầm đầu quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Giữa tháng 7, tướng Phi-líp Lơ-cơ-le bị triệu hồi vì đã công khai thừa nhận rằng, sức mạnh Việt Nam là “sức mạnh của cả một dân tộc”. Quyền tổng chỉ huy chuyển sang tay tướng Ê-chiên-nơVa-luy, tay chân thân tín của tập đoàn chủ chiến Bi-đôn Đác-giăng-li-ơ. Trong những ngày cuộc thương thuyết ở Phông-ten-nơ-blô đang bế tắc, viên tướng này đã nhiều lần điện về Pa-ri yêu cầu “cho đánh ngay”, phản đối mọi cuộc thương lượng nhùng nhằng”.

Trong bối cảnh đó, hội nghị quân sự toàn quốc họp tại Hà Nội ngày 19-10, Thường vụ Trung ương Đảng đã kết luận: “Nhất định không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp. Theo tinh thần và tư tưởng chỉ đạo đó, công việc chuẩn bị kháng chiến toàn quốc của quân và dân ta tiếp tục được triển khai ngày càng khẩn trương, thiết thực, cụ thể, để đất nước tránh lâm vào thế bị động khi kẻ thù buộc nhân dân ta phải đứng lên cầm súng chiến đấu.

Từ ngày Cụ Hồ về nước, những yêu sách ngang ngược của phía Pháp cùng với những “việc đã rồi” vẫn tiếp diễn. Bắt đầu là bức thư ngày 7-11 của Đô đốc Đác-giăng-li-ơ đòi giải tán Ủy ban hành chính Nam Bộ, đòi LLVT của ta ở miền Nam phải ngừng hoạt động. Ở ngoài Bắc, từ chỗ đơn phương tổ chức Phòng thuế và kiểm soát ngoại thương ở Hải Phòng, ngày 20-11, quân Pháp gây hấn rồi đánh chiếm Hải Phòng và thị xã Lạng Sơn, hòng bịt đường giao lưu của ta với nước ngoài cả trên bộ và trên biển. Đây được coi là một bước ngoặt trong âm mưu xâm lược của địch. Như sau này tướng Moóc-li-e (chỉ huy quân Pháp ở miền Bắc) nhận xét: “Việc đánh chiếm thành phố cảng có nghĩa là Hiệp định 6 tháng 3 và Tạm ước 14 tháng 9 tan vỡ hoàn toàn… Sự kiện Hải Phòng chứng tỏ một cách cụ thể rằng, nước Pháp đã chọn chính sách dùng bạo lực”.

Ngôi nhà ở làng Vạn Phúc (Hà Đông) – nơi Hồ Chủ tịch viết Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. Ảnh tư liệu.

Trước không khí ngày càng nóng lên trong quan hệ Việt-Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn kiên trì gửi thư cho Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Bi-đôn và nhân dân Pháp, cố gắng tìm kiếm những khả năng hòa hoãn nhỏ nhất, dù lúc này đã rất mong manh. Trong thư gửi tổng chỉ huy Va-luy và tướng Moóc-li-e, Cụ phản đối việc quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, đòi quân Pháp phải rút về vị trí trước ngày 20-11; đòi đẩy mạnh hoạt động của Ủy ban Liên kiểm Việt-Pháp để thực thi Tạm ước. Bức thư ngày 6-12 gửi Quốc hội và Chính phủ Pháp, cuộc nói chuyện ngày 7 với ông Mô-pha (Moffard), Giám đốc Vụ châu Á, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, công hàm ngày 13 gửi Chính phủ Pháp và Đô đốc Đác-giăng-li-ơ, thông điệp ngày 15 gửi thủ tướng Pháp v.v.. tất cả đều biểu thị thiện chí muốn cùng phía Pháp tìm một giải pháp thỏa đáng để cứu vãn tình thế. Ngày 7-12, trả lời phỏng vấn của phóng viên Béc-na Đơ-ran-be của tờ Pa-ri-Sài Gòn, một lần nữa Cụ Hồ khẳng định: “Đồng bào tôi và tôi thành thực mong muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn và nhân dân Pháp cũng không muốn chiến tranh… Chúng tôi muốn ngăn chặn cuộc chiến tranh này bằng mọi giá. Chúng tôi tha thiết độc lập, độc lập trong Khối Liên hiệp Pháp… Nỗ lực khôi phục của nước Việt Nam cũng như của nước Pháp không cho phép để xảy ra cuộc tàn sát và những đau khổ này… Nếu chúng tôi buộc phải chiến đấu, chúng tôi sẽ chiến đấu. Chúng tôi biết rõ những gì đang chờ đợi chúng tôi. Nước Pháp có đủ những phương tiện ghê gớm. Cuộc chiến đấu sẽ khốc liệt, nhưng nhân dân Việt Nam sẵn sàng chịu đựng tất cả chứ không chịu mất tự do. Tuy nhiên, tôi hy vọng và thiết tha mong rằng chúng ta không phải chấp nhận giải pháp này…”.(1)

Từ trung tuần tháng 12, trước tình hình quan hệ Việt-Pháp đã trở nên nóng bỏng, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn liên tiếp gửi thông điệp cho Chính phủ Pháp và cho thủ tướng mới của Pháp là Lê-ông Blom nhằm cùng nhau cứu vãn tình thế. Do điều kiện thông tin lúc đó, ta chưa thể chuyển thẳng thông điệp sang Pa-ri mà phải gửi qua đài của Pháp ở Sài Gòn và những người Pháp ở Đông Dương đã lợi dụng thực tế đó để cố tình trì hoãn việc chuyển những thông điệp của ta nhằm tiếp tục đặt Chính phủ mới của Pa-ri trước những “việc đã rồi”. Thông điệp ngày 15-12 chỉ được Xanh-tơ-ni chuyển vào Sài Gòn ngày 16 và ngày 18-12 Va-luy mới chuyển về Pháp, kèm theo những lời nhận xét thiếu xây dựng. Ngày 18-12, Bộ chỉ huy Pháp gửi tối hậu thư đòi được quyền quản lý thủ đô Hà Nội, đòi ta giải giáp tự vệ chiến đấu thành phố, nếu không họ sẽ tự cho quyền chuyển sang hành động vào ngày 20-12-1946.

Rõ ràng là khả năng hòa hoãn không còn, phía Pháp đã công khai tuyên chiến. Ngày 18-12, tại Vạn Phúc (Hà Đông), Thường vụ Trung ương họp mở rộng quyết định phát động kháng chiến toàn quốc. Tuy vậy, với tinh thần đến phút chót vẫn cố gạn chắt khả năng hòa hoãn cuối cùng, sáng 19-12, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn viết thư giao cho ông Hoàng Minh Giám đi gặp Xanh-tơ-ni, nhưng ông ta kêu mệt hẹn đến hôm sau mới tiếp phái viên của Chính phủ ta. Hôm sau, tức ngày 20-12, là thời điểm mà quân Pháp sẽ hành động như Bộ chỉ huy Pháp đã “cảnh báo” trong tối hậu thư. Theo hồi ký “Thư ký của Bác Hồ kể chuyện” thì sau khi nghe báo cáo phía Pháp khước từ không tiếp phái viên Chính phủ, mọi người “thoáng thấy Bác hơi cau mày, rồi nói khẽ như buột miệng: Hừ thì đánh!”. Như cách diễn đạt của sử gia Phi-líp Đơ-vi-le sau này, khi mà guồng máy chiến tranh của Pháp đã bắt đầu quay, quay một cách tàn nhẫn, khi mà sợi dây mong manh cuối cùng giằng níu chiếc cầu hòa hoãn đã bị phía Pháp chặt đứt, thì tiếng “Hừ” trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới là quyết định cuối cùng. Câu nói như buột miệng đó của Cụ đã đi vào lịch sử.

Chiều 19-12, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được tập thể Thường vụ thông qua lần cuối cùng để phát đi toàn quốc.

Đêm hôm đó, để giành chủ động, quân ta được lệnh nổ súng trước trên khắp các mặt trận. Cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu.

Đúng như lời Tổng bí thư Trư­ờng Chinh nhận định, 20 giờ đêm hôm đó là thời điểm nín nhịn đã nung nấu trong lòng dân tộc ta biết bao uất hận, nổ thành một sức mạnh xung thiên.

Tính chi li ra, từ ngày 23-9-1945, ngày quân Pháp bắt đầu gây hấn ở Sài Gòn, cho đến khi số phận của quân viễn chinh Pháp đ­ược quyết định trên cánh đồng Mường Thanh (Điện Biên Phủ, ngày 7-5-1954), cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp đã trải qua 8 năm 8 tháng. Dưới sự chèo chống của 20 đời thủ tướng Pháp, bằng mọi mưu đồ và kế hoạch chiến lược của 7 vị tổng chỉ huy quân viễn chinh và với sự viện trợ không ngừng tăng của Mỹ, giấc mộng giành lại “bông hoa đẹp nhất trong vườn hoa thuộc địa” của Đờ-gôn và giới thực dân phản động Pháp vẫn tan thành mây khói. Phải 12 năm sau sự kiện Điện Biên Phủ, trong thư đề ngày 8-2-1966 gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh, cựu Tổng thống Đờ-gôn mới tỏ sự nuối tiếc rằng: Giá mà, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, giữa Pháp và Việt Nam có sự hiểu biết lẫn nhau tốt hơn(?!) thì đã tránh được thảm họa đang giằng xé đất nước Ngài hôm nay. Như vậy là Xác-lơ Đờ-gôn đã “thấy vấn đề”. Nhưng đáng tiếc thay, đó chỉ là một sự nuối tiếc quá muộn màng. Muộn màng hai thập kỷ.

Không ai nghĩ rằng, câu chuyện cũ sẽ được nhắc lại một cách khéo léo, tế nhị, hơn 10 năm sau đó. Chẳng là, tháng 4-1977, hãng thông tấn Pháp AFP đã dẫn lời của Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói với Tổng thống Va-lơ-ri Git-xca Đéc-xtanh nhân chuyến sang thăm Pháp, rằng: Trong quan hệ lâu dài với Việt Nam, nước Pháp thường tính sai nhiều nước cờ.

(1) Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Tập 3, Nxb CTQG 1993, trang 350

———

Sự thật về chặng đường dẫn đến ngày 19-12-1946 (Kỳ 1)
Sự thật về chặng đường dẫn đến ngày 19-12-1946 (Kỳ 2)

Trần Trọng Trung

qdnd.vn

Sự thật về chặng đường dẫn đến ngày 19-12-1946 (Kỳ 2)

Tháng Mười Hai 22, 2011 Phản hồi đã bị khóa

QĐND – Sau này, qua sách báo của Pháp ta được biết: Phái đoàn Pa-ri sang Đà Lạt với một “chỉ thị rất nghiêm ngặt” (đề ngày 14 tháng 4 năm 1946) của ngoại trưởng Gioóc-giơ Bi-đôn (Georges Bidault), nói rằng: Không những phải làm sao cho hội nghị trù bị thất bại mà điều quan trọng là còn phải lái dư luận tin rằng, nguyên nhân đàm phán sơ bộ tan vỡ là “do phía cộng sản gây nên”. Cụ thể là phải khước từ ngừng bắn ở miền Nam; không được bàn về bất kỳ vấn đề gì thuộc phía Nam vĩ tuyến 16; phải tách Tây Nguyên ra thành “xứ Tây Kỳ tự trị”; phải đòi quân đội Việt Minh đặt dưới quyền Bộ chỉ huy Liên bang Đông Dương v.v.. Trong khi đó thì Phái đoàn Việt Nam nhận chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh phải đấu tranh để cụ thể hóa mấy nội dung chủ yếu của Hiệp định Sơ bộ:

- Quốc gia tự do (Etat libre): Phải nói rõ nội dung và mức độ tự do, nhất là về lãnh thổ, phải thống nhất hoàn chỉnh.

- Liên bang (Fédération indochinoise): Liên bang Đông Dương chỉ thể hiện về mặt kinh tế, nhất định không chấp nhận Chính phủ Liên bang.

- Liên hiệp Pháp (Union francaise): Nhận tự do liên hiệp với Pháp nhưng quyền hạn và nhiệm vụ của Việt Nam phải định rõ: Việt Nam phải được quyền thảo luận và biểu quyết những vấn đề của Liên hiệp có liên quan đến Việt Nam; ta phải có ngoại giao tối thiểu (với Anh, Mỹ, Nga, Hoa) và các nước láng giềng; Pháp phải giới thiệu Việt Nam vào Liên hợp quốc; về tài chính, ta phải có ngân hàng, tiền tệ riêng; về kinh tế, chủ quyền kinh tế của Việt Nam phải thuộc Nhà nước Việt Nam; về quân sự, ta không chấp nhận tổ chức quân sự liên bang, phải định rõ quân số, địa điểm và thời gian đóng quân của Pháp trên đất nước ta…

Phố Tràng Tiền (Hà Nội), trước ngày Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946). Ảnh tư liệu.

Thật không có gì là khó hiểu vì sao ngay từ buổi họp đầu tiên, lập trường hai bên đã xung khắc như nước với lửa. Ta sớm thấy lập trường của Pháp gói gọn trong ba điểm chính: 1) Việt Nam không chỉ gồm ba “Kỳ” mà thành phần của nó (nhiều “Kỳ” hay ít) là do trưng cầu dân ý quyết định; 2) Cuộc trưng cầu dân ý (do Pháp tổ chức) chỉ diễn ra ở Nam vĩ tuyến 16; Chính phủ Việt Nam không được tham dự vào các vấn đề chính trị của phần lãnh thổ phía Nam trước khi có kết quả trưng cầu dân ý; 3) Hội nghị trù bị sẽ không bàn đến nội trị các xứ Nam Kỳ và “Tây Kỳ”. Trong khi đó, bên ngoài hội nghị, phía Pháp có những hành động hết sức ngang ngược khiến cho hội nghị càng thêm căng thẳng. Ví dụ: Đòi trục xuất ông Tạ Quang Bửu ra khỏi Đà Lạt, ngang nhiên bắt ông Phạm Ngọc Thạch đưa về Sài Gòn, đòi ta phải “xin phép” mới được dùng điện đài (của ta) để liên lạc với Hà Nội v.v..

23 ngày (19-4 đến 11-5-1946) căng thẳng nặng nề trôi đi, hội nghị kết thúc mà không đạt kết quả gì tích cực. Tuy nhiên, theo chỉ thị của Cụ Hồ, phái đoàn ta không chủ trương “cắt cầu”. Tại Đà Lạt, trả lời phóng viên nước ngoài, ông Giáp nói rằng, hội nghị chỉ phản ánh một sự bất đồng hữu nghị. Phía Pháp không có lý do gì để khước từ cuộc đàm phán chính thức trên đất Pháp như đã quy định trong Hiệp định Sơ bộ.

Một ngày sau khi hội nghị Đà Lạt kết thúc, tờ Lăng-tăng-tơ (L’Entente) của Pháp xuất bản ở Hà Nội viết: “Thực chất thất bại của hội nghị trù bị là kết quả điều hành của Phó trưởng đoàn Việt Nam Võ Nguyên Giáp – một bộ trưởng cộng sản”. Tờ báo đã phản ánh đúng chỉ thị của Pa-ri: Đàm phán để phá hoại đàm phán rồi đổ thừa cho phía những người đối thoại.

Gần hai tháng sau, hầu như những gì đã diễn ra ở Đà Lạt lại được tái diễn ở Phông-ten-nơ-blô. Ngoài phần lớn các thành viên đã từng có mặt trong hội nghị trù bị, người ta thấy có thêm đô đốc Bác-giô (Barjot), người mà báo chí Pháp gọi là “đại diện riêng và giấu mặt” của Đờ-gôn đến để “giám sát” hội nghị. Lần này, Gioóc-giơ Bi-đôn (là thủ tướng kiêm ngoại trưởng của Chính phủ mới được thành lập ngày 19-6-1946) cũng có chỉ thị rõ ràng hơn, cụ thể hơn về phương châm “đàm phán để phá hoại đàm phán”. Chỉ thị viết: “Vì lý do chống nguy cơ cộng sản, phải làm sao đạt được sự bảo đảm không để nước Việt Nam trở thành một con cờ mới trên bàn cờ Xô-viết, một vệ tinh mới của Mạc-tư-khoa”.

Sau khi nghe phổ biến chỉ thị của Bi-đôn (Bidault) và biết mưu đồ của giới cầm quyền Pháp quyết làm cho hội nghị thất bại, một thành viên của phái đoàn Pháp là giáo sư Pôn Ri-vê (Paul Rivet) đã tuyên bố tẩy chay không tham gia phái đoàn. Trong thư đề ngày 5-7-1946 gửi bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Ma-ri-uýt Mu-tê (Marius Moutet), giáo sư viết: “Tôi cự tuyệt không tham gia các cuộc thảo luận ở Phông-ten-nơ-blô vì tôi không muốn biến mình thành một kẻ bị lừa gạt, một kẻ đồng lõa…”.

Ý đồ của giới chính quyền Bi-đôn đủ lý giải vì sao sau hơn hai tháng (từ ngày 6-7 đến 8-9-1946), hội nghị chính thức Phông-ten-nơ-blô cũng chịu chung số phận như hội nghị trù bị Đà Lạt.

Điều cần nói thêm là trải qua gần ba tháng có mặt ở thủ đô Pa-ri, với danh nghĩa khách mời của Chính phủ Pháp, không trực tiếp tham dự cuộc thương thuyết nhưng Cụ Hồ đã hoạt động không mệt mỏi nhằm góp phần xây dựng mối quan hệ bình đẳng và hữu nghị giữa hai dân tộc Việt – Pháp, đề cao vị thế của Việt Nam, tranh thủ cảm tình của nhân dân Pháp và thế giới.

Suốt 86 ngày ở Pa-ri, Cụ Hồ tiếp xúc với các ký giả Pháp hoặc nước ngoài gần 60 lần – một kỷ lục hiếm thấy trong hoạt động báo chí của một nguyên thủ quốc gia trên đất khách. Cuộc họp báo đầu tiên thu hút hàng trăm ký giả Pháp và nước ngoài. Chủ đề được Cụ luôn khẳng định là nhân dân Việt Nam không muốn chiến tranh, nguyện vọng nóng bỏng của người Việt Nam là độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Đó chính là nền tảng đường lối đối ngoại hợp tác thật thà và thân thiện trong hòa bình và hữu nghị với Chính phủ và nhân dân nước Pháp mới.

Ngôi nhà ở làng Vạn Phúc (Hà Đông) – nơi Hồ Chủ tịch viết Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. Ảnh tư liệu.

Ngày 2 tháng 7, Thủ tướng Pháp chính thức tiếp đón Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo sứ giả Hăng-ri A-rô thì hôm đó, trong bài diễn văn của mình, Gioóc-giơ Bi-đôn “nói toàn những lời vô vị, trống rỗng và bóng gió”, trong khi đó thì vị khách châu Á chủ động đi thẳng vào vấn đề nhằm ngăn chặn ý đồ thôn tính và chia cắt của phía Pháp. Cụ nói: “Trước khi chính thức chào mừng Chính phủ Pháp, tôi đã có dịp thăm xứ Ba-xcơ (Basque). Sự tiếp xúc của tôi với xứ đó đã cho tôi nhiều bài học. Tuy họ giữ màu sắc riêng, ngôn ngữ và phong tục riêng, như­­ng dân Ba-xcơ vẫn là dân Pháp. N­­ước Pháp tuy có nhiều vùng miền khác nhau, như­ng vẫn là một n­ư­ớc thống nhất và không thể chia sẻ… Chúng ta đều đ­ư­ợc kích thích bởi một tinh thần: Triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán dư­­ơng một nguyên tắc đạo đức: Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”.

Ngoài giới báo chí, các chính khách và tướng lĩnh Pháp là đối tượng mà Cụ Hồ tiếp xúc nhiều lần. Cụ đã nói với họ những lời rất chân thành về nguyện vọng giữ cho mối quan hệ Việt-Pháp “không có tiếng súng”. Có người vì thiện chí mà sốt sắng và công khai ủng hộ nguyện vọng độc lập của nhân dân Việt Nam nhưng cũng có những người đến lúc đó vẫn chưa thay đổi nếp suy nghĩ thực dân thâm căn cố đế. Đó là các cựu toàn quyền Đông Dương A-lét-xăng-đơ-rơ và An-be Xa-rô, những người đã từng ra lệnh truy nã Nguyễn Ái Quốc mấy thập kỷ trước. Giờ đây, ngay những ngày Cụ Hồ có mặt ở Pa-ri, trên tờ Rạng Đông (Aurore-số ra ngày 6-8-1946), Va-re-nơ còn viết những câu nặng mùi thực dân, với khẩu khí “rất xưa” của một quan toàn quyền Đông Dương. Cuộc gặp gỡ Hồ Chí Minh – Va-re-nơ được giới báo chí coi là một cuộc đối thoại khá đặc biệt giữa hai chính khách chênh nhau 20 tuổi. Với phong cách rất riêng, Cụ Hồ đã chủ động tạo nên không khí hòa giải để nói với người đối thoại về thiện chí đàm phán và nguyện vọng độc lập của Việt Nam trong mối quan hệ hữu nghị với nước Pháp mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành nhiều thời gian trực tiếp nói chuyện với các thành viên trong phái đoàn đàm phán của Pháp. Mỗi lần tiếp xúc với họ là một cuộc đấu tranh không khoan nhượng.

Giới kinh doanh cũng là những người sớm đến tiếp kiến Cụ Hồ để tìm hiểu lập trường của Chính phủ Việt Nam đối với quyền lợi kinh tế của Pháp ở Đông Dương. Với các vị khách này, Cụ Hồ thường nói lên điều mong mỏi hội nghị Phông-ten-nơ-blô đạt kết quả tích cực để khai thông mối quan hệ kinh tế giữa hai nước. Cụ không giấu diếm mà nói Việt Nam rất cần những người thầy, những kỹ sư, những chuyên gia về kinh tế. Người Việt Nam “sẵn sàng làm học trò” về mặt này.

Một tuần sau khi Hội nghị Phông-ten-nơ-blô khai mạc, cuộc họp báo ngày 12 tháng 7 được các ký giả coi là rất quan trọng và bổ ích. Cụ Hồ đã nói đầy đủ về lập trường thương thuyết của Việt Nam đang được đặt trên bàn thương thuyết: 1) Việt Nam đòi quyền độc lập. Độc lập không có nghĩa là tuyệt giao với Pháp mà ở trong Khối Liên hiệp Pháp; 2) Việt Nam không chịu có Chính phủ Liên bang; 3) Nam Bộ là một bộ phận của Việt Nam. Không ai, không lực lượng nào có thể chia cắt; 4) Việt Nam sẽ bảo vệ tài sản của người Pháp, nhưng phía Pháp phải tuân theo luật lao động của Việt Nam và Việt Nam giữ quyền mua lại những tài sản có quan hệ tới quốc phòng; 5) Nếu dùng đến cố vấn thì Việt Nam sẽ ưu tiên dùng người Pháp; 6) Việt Nam có quyền phái đại sứ và lãnh sự đi các nước.

Một tháng sau, trong bối cảnh cuộc đàm phán đang giậm chân tại chỗ, trong cuộc họp báo ngày 13 tháng 8, trả lời ông Rông-sắc (Báo Pháp Phrăng-ti-rơ (Franc-tireur), Cụ Hồ nói:

- “Tôi sang đây để hòa giải. Tôi không muốn về Hà Nội với hai bàn tay trắng mà với những kết quả cụ thể, một sự khẳng định tương lai hợp tác mà chúng tôi mong đợi… Tinh thần thiện chí của Việt Nam khi ký hiệp ­ước còn giá trị hơn mọi văn bản và lời nói, vì chúng tôi kiên quyết bảo đảm những lợi ích tinh thần, văn hóa và vật chất của Pháp và ngược lại, Pháp phải bảo đảm nền độc lập của chúng tôi. Tôi xin nhắc lại: Một từ “độc lập” là đủ để đư­a lại một sự tín nhiệm đang cần được khẳng định…

Được hỏi về vấn đề Nam Bộ mà phía Pháp vẫn chủ trương tách khỏi Việt Nam, Cụ Hồ nói: “Về mặt dân tộc và lịch sử, Nam Bộ là đất của Việt Nam, đó là thịt của thịt chúng tôi, là máu của máu chúng tôi. Như­­ các vùng Bretagne và Basque là những bộ phận không thể tách rời của nư­­ớc Pháp… Xin nhớ rằng, trước khi đảo Coóc-xơ (Corse) thuộc về nước Pháp thì Nam Bộ đã là của Việt Nam rồi…”.

Trải qua nhiều phen đứt nối, cuộc đàm phán đã đứng tr­­ước nguy cơ tan vỡ. Nhờ sự vận động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 3 tháng 9, hai phái đoàn tiếp tục các cuộc “họp hẹp” như­­ng cũng chỉ trải qua ba buổi, cuộc gặp gỡ ngày 7 tháng 9 đ­ư­ợc coi là cuộc họp cuối cùng. Tr­­ước tình thế khả năng hòa hoãn ngày càng giảm, khả năng nổ ra xung đột quy mô toàn cục ngày càng tăng, để dành thời gian cần thiết cho công cuộc chuẩn bị kháng chiến, đêm 14 rạng 15 tháng 9, Cụ Hồ ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Tạm ư­­ớc.

Báo chí trong nước đánh giá: Đây là bước nhân nhượng cuối cùng, nhân nhượng thêm nữa sẽ vi phạm quyền lợi tối trọng của dân tộc.

Ta càng nhân nhượng – địch càng lấn tới. Tức nước vỡ bờ

Mặc dù hai bên Việt-Pháp đã lần lượt ký Hiệp định Sơ bộ và Tạm ước, nhưng những phần tử “gô-lít” vẫn chủ trương dùng vũ lực, vẫn tìm mọi thủ đoạn để lấn tới.

Ngày 1 tháng 6, khi phái đoàn ta vừa lên đường sang Pháp thì tại Sài Gòn, Đô dốc Đác-giăng-li-ơ chính thức cho ra đời cái gọi là “Chính phủ lâm thời cộng hòa Nam Kỳ”. Ngày 8-6, đến Cai-rô (Ai Cập) và nhận đư­­ợc tin này, Cụ Hồ nói với tư­­ớng Ra-un Xa-lăng (tháp tùng chuyến đi) rằng: “Tôi vừa quay lưng đi, người ta đã nặn ra cái chính phủ Nam Kỳ”! Phía Pháp cố tình kéo dài cuộc hành trình bằng máy bay của phái đoàn ta từ Hà Nội sang Bi-a-rit-dơ, một thị trấn ở Tây Nam nước Pháp. Báo chí Pháp hồi đó đã hài hước gọi chuyến đi 11 ngày này là “chặng đường bí ẩn”.

Ngay từ những ngày đầu Cụ Hồ đặt chân lên đất Pháp, những người Pháp ở Đông Dương đã liên tiếp đặt Chính phủ ta trước hàng loạt “việc đã rồi”. Họ tập hợp một số tay sai ở Đông Bắc chuẩn bị lập “xứ Nùng tự trị”, mở cuộc hành quân đánh chiếm một số địa bàn trọng yếu ở Tây Nguyên (ngày 21-6) để chuẩn bị lập “xứ Tây Kỳ tự trị”, triệu tập bọn tay sai ba nước họp “hội nghị Liên bang Đông Dương” ở Đà Lạt… Ngay tại Hà Nội, cùng với việc cho quân chiếm đóng trái phép Phủ toàn quyền cũ (ngày 23-6), họ tập hợp một số tên phản động trong các đảng Việt quốc – Việt cách (thân Tưởng trước đây, nay đã thay thầy đổi chủ) chuẩn bị làm đảo chính hòng lật đổ chính quyền cách mạng.

———

* Sự thật về chặng đường dẫn đến ngày 19-12-1946 (Kỳ 1)

(còn nữa)

Trần Trọng Trung

qdnd.vn

Sự thật về chặng đường dẫn đến ngày 19-12-1946 (Kỳ 1)

Tháng Mười Hai 22, 2011 Phản hồi đã bị khóa

QĐND - Nguồn gốc sâu xa và nguyên nhân trực tiếp của sự kiện 19-12-1946 ở Việt Nam không những đã đ­ược các nhà nghiên cứu lịch sử trong nư­ớc mà còn rất nhiều ngư­ời trong giới sử học nước ngoài kết luận từ rất lâu. Vậy mà hai năm gần đây (14-7-2010 và 26-8-2011), thông qua một hãng thông tấn nước ngoài, một vị giáo sư sử học­ người Việt ở Ca-li-phoóc-ni-a – Hoa Kỳ nói rằng cuộc chiến Việt-Pháp nổ ra là do phía Việt Nam hiếu chiến. Bỏ qua rất nhiều điều kết luận sai trái của vị giáo sư­ này về giai đoạn lịch sử 1945-1946 của Việt Nam, bài viết sau đây chỉ nhằm ghi lại những sự kiện dẫn đến ngày 19-12-1946.

Nước cờ tính sai của Đờ-gôn (De Gaulle). Thiện chí hòa giải của Cụ Hồ

Một điều có thể khẳng định, đó là khi nổ ra cuộc đảo chính của Nhật (lật đổ chế độ cai trị của Pháp ở Đông Dương – ngày 9-3-1945), tổng thống Cộng hòa Pháp Sác-lơ Đờ-gôn (Charles de Gaulle) không hiểu gì về phong trào cách mạng của nhân dân Việt Nam đang sôi sục chuyển sang thời kỳ tiền khởi nghĩa. Chẳng thế mà chỉ nửa tháng sau cuộc đảo chính, ngày 24-3, ông ta tung ra bản tuyên bố về vấn đề Đông Dương. Nội dung chủ yếu của bản tuyên bố phản ánh tham vọng lập lại ách thống trị thực dân trên toàn lãnh thổ Đông Dương, với tư tưởng chỉ đạo “chiến tiền nguyên trạng”. Theo bản tuyên bố thì Đông Dương vẫn gồm 5 xứ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và Cao Miên), hợp thành chính phủ Liên bang, do một viên toàn quyền đứng đầu, chịu trách nhiệm trước Chính phủ Pháp.

Bàn về việc làm trên đây, trong tác phẩm Lịch sử Việt Nam từ 1940 đến 1952, sử gia Pháp Phi-líp Đờ-vi-le (Philippe Devillers) đánh giá rằng, bản tuyên bố của Đờ-gôn (De Gaulle) lạc hậu ít nhất 15 năm. Vậy mà nó vẫn trở thành sợi chỉ xuyên suốt mọi chủ trương chính sách của giới cầm quyền phản động Pháp đối với 3 nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia cho đến mùa hè năm 1954.

Tự vệ chợ Đồng Xuân bố trí chông và vật cản ngăn chặn quân Pháp trong những ngày Toàn quốc kháng chiến. Ảnh tư liệu.

Dù chưa được đọc bản tuyên bố của Đờ-gôn, nhưng căn cứ vào tin tức về cuộc hội nghị giữa các nước lớn bàn về những vấn đề hậu chiến, lại sớm dự kiến tình hình sẽ phức tạp do âm mưu của phản động quốc tế, nhất là của giới cầm quyền Pháp, Cụ Hồ đã chủ động đi những nước cờ hòa giải. Qua đài vô tuyến điện của nhóm sĩ quan tình báo Mỹ OSS đang phối hợp hoạt động với ta ở Việt Bắc, Cụ đã nhân danh Mặt trận Việt Minh nhờ Bộ tư lệnh Mỹ ở Hoa Nam (AGAS) báo cho Pa-ri biết rằng, Việt Minh sẵn sàng cử đại diện cùng Pháp “nói chuyện”, hoặc ở Côn Minh (Trung Quốc) hoặc ở một địa điểm nào đó thuộc Bắc Kỳ, nhằm giải quyết mối quan hệ Việt – Pháp trong tình hình mới. Sau đó, liên tiếp trong những ngày 25-7 và 18-8-1945 (khi cách mạng Việt Nam đang trong cao trào Tổng khởi nghĩa), Cụ Hồ lại gửi cho Đờ-gôn hai bản đề nghị mà nội dung chủ yếu là: 1) Chính phủ Pháp công nhận Chính phủ Việt Minh; 2) Việt Minh công nhận quyền của Pháp ở Việt Nam trong vòng từ 5 đến 10 năm, sau đó Chính phủ Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam; 3) Trong 5 – 10 năm đó, Việt Nam hưởng quyền tự trị đối nội…

Theo Pa-ty (A.Patti) – tác giả cuốn “Vì sao Việt Nam?” và Sáp-phen (R.Shaphen) – tác giả cuốn “Điều bí ẩn của Hồ Chí Minh”, thì đại diện của Pháp ở Côn Minh hồi đó là Lê-ông Pi-nhông (Léon Pignon) và Giăng Xanh-tơ-ni (Jean Sainteny) đã nhận và chuyển hai bản đề nghị về Pháp, nhưng sở dĩ không có hồi âm vì những đề nghị của Hồ Chí Minh không phù hợp với những điều suy nghĩ của Đờ-gôn về tương lai Đông Dương. Giới cầm quyền Pháp đang trù tính việc khác. Vậy việc khác đó là gì?

Những năm sau này chúng ta mới biết rằng, trong cao trào Tổng khởi nghĩa, ngày 16-8-1945, khi ông Võ Nguyên Giáp vâng lệnh Cụ Hồ xuất quân từ Tân Trào về giải phóng Thái Nguyên cũng đúng là ngày Tổng thống Pháp Đờ-gôn giao cho tướng 4 sao Phi-líp Lơ-cơ-le (Philippe Leclerc) đưa quân sang Viễn Đông nhằm “hoàn thành nốt chặng đường giải phóng” (?!) mà mục tiêu đầu tiên là Sài Gòn.

Một sự trùng hợp kỳ lạ, nhưng có điều, hai người cầm quân với hai nhiệm vụ mang ý nghĩa chính trị hoàn toàn trái ngược nhau – giải phóng dân tộc và viễn chinh xâm lược.

Đờ-gôn vội vã vì “chậm chân”. Cụ Hồ chìa bàn tay hữu nghị 

Khi nhân dân Hà Nội vừa giành được chính quyền và giữa lúc cuộc Tổng khởi nghĩa còn đang tiếp diễn, ngày 22 tháng 8, Cụ Hồ rời Tân Trào về Hà Nội. Chính trong ngày đó và chỉ trong một ngày 22 tháng 8 đó thôi, hàng loạt sự kiện đã dồn dập diễn ra chứng tỏ Tổng thống Đờ-gôn đang rất vội vã vì sợ bị chậm chân trong mưu đồ “trở lại” Đông Dương (1), đồng thời cũng chứng tỏ phán đoán của Cụ Hồ về âm mưu tái chiếm Đông Dương của thực dân phản động Pháp đang biến thành hiện thực. Chỉ xin dẫn lại mấy việc điển hình cùng diễn ra trong ngày 22-8-1945 khó quên đó: 1) Đờ-gôn bay sang Oa-sinh-tơn (Washington) vận động Tổng thống Ha-ry Tơ-ru-man (Harry Truman) “hãy làm ngơ” trước việc quân Pháp “trở lại thuộc địa cũ”; 2) Trên đường đưa quân sang Viễn Đông, khi qua Ca-ra-chi (Karachi) – Pa-ki-xtan (Pakistan), tướng Lơ-cơ-le (Leclerc) đề nghị và được Đô đốc hải quân Hoàng gia Anh Mao-bớt-ten (Mounbatten) hứa sẽ tạo mọi điều kiện cho quân Pháp núp dưới cờ Anh để vào Sài Gòn; 3) Từ Côn Minh (Hoa Nam), Thiếu tá tình báo Pháp Giăng Xanh-tơ-ni “bám càng” máy bay của Thiếu tá tình báo Mỹ L.A. Pa-ty (Patti) sang hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm – Hà Nội; 4) Không quân Hoàng gia Anh chở mấy “quan cai trị” Pháp và thả dù xuống 3 miền của nước Việt Nam: Mét-xme (P.Messmer) xuống Phúc Yên, Ca-xê-na (G.Casténa) xuống Thừa Thiên, Xê-di-lơ (J.Cédile) xuống Tây Ninh. Tất cả đều mang theo “giấy ủy nhiệm” được cử làm Ủy viên Cộng hòa Pháp ở mỗi miền của Việt Nam.

Trước ý đồ tái xâm lược đã quá rõ ràng của Pháp, trong bản Tuyên ngôn Độc lập đọc trong ngày lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhân danh Chính phủ lâm thời nói rõ lập trường của ta, đó là “Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp”.

Với tầm nhìn xa và thiện chí hòa bình hợp tác với “nước Pháp mới”, Cụ Hồ đã chủ động chỉ đạo việc tiếp xúc với phía Pháp, nhằm thăm dò lập trường và thái độ của các phái viên đầu tiên của Pa-ri: Ở Sài Gòn, Trần Văn Giàu gặp Giăng Xê-di-lơ, ở Hà Nội Võ Nguyên Giáp gặp Giăng Xanh-tơ-ni. Sau đó, chính Cụ cũng trực tiếp gặp Lê-ông Pi-nhông và tướng A-let-xăng-đơ-ri khi họ đến Hà Nội.

Mặc dù những cuộc tiếp xúc đầu tiên đã cho thấy tim đen của những người đại diện của Pa-ri, nhưng theo đường lối hòa giải của Cụ Hồ, cuộc thương thuyết Việt-Pháp vẫn tiếp tục diễn ra ở Hà Nội ngay từ cuối tháng 9 năm 1945, lúc đầu còn trong vòng bí mật. Trong các cuộc gặp khi đứt, khi nối suốt mấy tháng cuối năm 1945 – đầu năm 1946, cuộc tranh cãi chung quanh từ “độc lập” kéo dài từ buổi này sang buổi khác. Ta không chấp nhận chế độ “tự trị”, trong khi Pháp không công nhận nền độc lập của Việt Nam.

Khoảng cuối năm 1945, trong một lần trả lời phỏng vấn, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với ký giả Pháp Ăng-đơ-rê Bơ-lăng-sê (André Blanchet) rằng, nếu nước Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam thì Chính phủ và nhân dân Việt Nam sẽ cử một đoàn đại biểu sang thăm hữu nghị và cảm ơn nước Pháp. Như vậy, Chính phủ Pháp không hề “mất thể diện” vì công nhận Việt Nam độc lập mà trái lại, việc đó càng làm cho uy tín của nước Pháp được đề cao trên trường quốc tế. Khi nhà báo hỏi: “Thưa Chủ tịch, phải chăng như vậy có nghĩa là phía Việt Nam muốn đòi được tất cả mà không nhân nhượng chút gì?”, Cụ Hồ giải thích rằng, Việt Nam sẵn sàng nhân nhượng, nhất là về kinh tế. “Nhân dân Việt Nam muốn tiếp đón những giáo viên chứ không tiếp đón những ông chủ. Chúng tôi muốn là những người cộng tác, thậm chí là những người học trò, nhưng quyết không muốn trở lại là những người nô lệ. Việt Nam rất cần những giáo sư, bác sĩ, kỹ sư, nhưng không cần những viên quan cai trị”.

Hăng-ri A-dô (Henri Azeau), tác giả cuốn “Hồ Chí Minh – dịp may cuối cùng” viết: “Đáp lại những lời kêu gọi đầy tinh thần hòa giải đó, đáng lẽ phải thấy thiện chí của phía Việt Nam, thì ở Pa-ri, người ta vẫn cứ khư khư ôm lấy bản tuyên bố 24-3 được Đờ-gôn nặn ra trên cơ sở một giả thuyết ảo tưởng về lòng trung thành không hề lay chuyển của Đông Dương đối với nước Pháp”. Trong khi đó thì ở Việt Nam, vẫn theo Hăng-ri A-dô, những phần tử chủ chiến thuộc phe Đờ-gôn (mà báo chí Pháp thường gọi là “gô-lít”), từ A-lét-xăng-đơ-ri và Lê-ông Pi-nhông lúc đầu, tiếp đến là Xanh-tơ-ni và Xa-lăng, vẫn tỏ ra hết sức ngoan cố trên những vấn đề mang tính nguyên tắc.

Trong cuộc gặp gỡ ngày 8-2-1946, khi phía Pháp muốn đưa vấn đề “quân Pháp đang chuẩn bị đổ bộ lên đất Bắc Kỳ” để hòng gây sức ép với ta, đại diện Chính phủ ta rất ôn tồn nhưng thẳng thắn: “Chúng tôi muốn giữ mối quan hệ hữu nghị và bình đẳng với nước Pháp, nhưng cũng quyết tâm bảo vệ nền độc lập mới giành được. Chúng tôi sẽ quyết không lùi bước nếu các ông muốn dùng vũ lực, vì chúng tôi không chấp nhận trở lại cuộc sống nô lệ. Pháp là một nước lớn, có nhiều quân, trang bị đầy đủ, hiện đại. Chúng tôi có ít tay súng nhưng chúng tôi có sức mạnh của cả một dân tộc. Nếu Pháp đánh bại Việt Nam thì chiến thắng đó chẳng có gì đáng kể, ngược lại, nếu Việt Nam đánh bại Pháp thì đó sẽ là một chiến công rất vĩ đại. Các ông sắp đổ bộ ư? Chúng tôi không thể ngăn cản các ông làm việc đó, nhưng rồi máu sẽ đổ và đó là điều không hay ho gì, chúng tôi không muốn để xảy ra. Nếu Pháp coi mình là một nước tự do thì “nước Pháp mới” phải để cho chúng tôi cũng có quyền hưởng tự do.

Cứ như thế, trải qua 6 tháng, cuộc thương lượng vẫn không ra khỏi bế tắc. Mãi đến đầu tháng 3 năm 1946, do chủ động đề xuất của phía Việt Nam, hai bên mới đạt được những điểm đồng thuận nêu trong Hiệp định sơ bộ, ký ngày 6-3-1946 tại Hà Nội. Ta tạm gác từ “độc lập” và chấp nhận Việt Nam là một quốc gia tự do… là thành viên trong Liên bang Đông Dương và khối Liên hiệp Pháp, đồng thời đồng ý để cho 15.000 quân Pháp ra miền Bắc làm nhiệm vụ thay thế quân đội Trung Hoa dân quốc giải giáp quân đội Nhật. Số quân này phải rút hết sau một thời gian không quá 5 năm. Hai bên đình chỉ chiến sự và mở ngay cuộc đàm phán chính thức…

Sự nhân nhượng quan trọng đầu tiên trong cuộc đàm phán đã kéo dài hơn nửa năm này chính là nhằm tạo điều kiện pháp lý đẩy nhanh quân Tưởng về nước và buộc Pháp phải mở đường cho cuộc đàm phán chính thức trên đất Pháp.

Từ Đà Lạt đến Phông-ten-nơ-blô (Fontainebleau). Những luồng gió ngược chiều

Phản ứng quyết liệt sự ra đời của Hiệp định sơ bộ, các phần tử “gô-lít” ở Pháp cũng như ở Đông Dương lên án gay gắt Lơ-cơ-le và Xanh-tơ-ni “đã bán đứng Đông Dương cho cộng sản”, đã khờ dại chấp nhận điều khoản nói về cuộc đàm phán chính thức. Đờ-gôn đặt vấn đề: “Vì sao người ta đã không đọc kỹ bản tuyên bố của tôi? Nếu cứ như thế này thì chẳng bao lâu nước Pháp sẽ không còn đế quốc của nó nữa”. Đô đốc Đác-giăng-li-ơ (khi đó đang ở Pa-ri) họp báo nêu câu hỏi: “Chúng ta có một đội quân viễn chinh tốt mã nhường ấy, vậy mà có những người Pháp ở Đông Dương (ám chỉ Tướng Lơ-cơ-le) chỉ nghĩ đến chuyện đàm phán!”. A-lếc-xăng-đơ-rơ Va-ren-nơ (Alexandre Varenne) thì than phiền: “Nền cộng hòa đã sáng tạo được ở bên kia đại dương một sự nghiệp tráng lệ làm hiển vinh cho anh tài Pháp. Vậy mà, liệu chúng ta có sắp từ bỏ và phá hoại sự nghiệp đó hay không?”. Sau khi trở lại Sài Gòn, ngày 12 tháng 3, Đô đốc Đác-giăng-li-ơ cùng với Xê-di-lơ ra bản tuyên bố xuyên tạc rằng bản Hiệp định sơ bộ chỉ là “một bản hiệp định cục bộ giữa chính quyền Hà Nội với Ủy viên Cộng hòa Pháp tại miền Bắc” (tức là không có giá trị gì đối với Nam vĩ tuyến 16). Họ tiết lộ: Sắp tới, Nam Kỳ cũng sẽ lập một Chính phủ riêng, có quân đội và tài chính riêng…

Đác-giăng-li-ơ tìm mọi thủ đoạn trì hoãn cuộc đàm phán chính thức trên đất Pháp. Trong cuộc hội đàm với Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vịnh Hạ Long ngày 24-3-1946, viên đô đốc đề nghị mở cuộc họp trù bị ở Đà Lạt nhằm “san phẳng mọi vấn đề bất đồng”. Đây là vấn đề chưa được đặt ra và thỏa thuận từ trước, nhưng Cụ Hồ vẫn chấp nhận để có thêm điều kiện trực tiếp tìm hiểu lập trường của Pa-ri.

(Còn nữa)

——————-

(1). Chữ “trở lại” (retour) là chữ Đờ-gôn dựng trong hai tập Hồi ký chiến tranh (Mémoires de guerre) và Hồi ký hy vọng (Memoires d’espoir) xuất bản những năm 1954 – 1959.

Trần Trọng Trung

qdnd.vn

Tính chất và đặc điểm 60 ngày đêm chiến đấu ở Hà Nội (Tiếp theo và hết)

Tháng Mười Hai 18, 2011 Phản hồi đã bị khóa

QĐND - Số rất đông chiến sĩ xung trận đêm 19-12-1946 là những người lần đầu tiên cầm súng. Đối mặt với một kẻ địch có truyền thống về lục quân hàng thế kỷ lại ưu thế tuyệt đối về binh khí kỹ thuật, nhất là pháo binh, xe tăng, cơ giới và đặc biệt là chúng đóng xen kẽ với ta trong từng đường phố trước giờ nổ súng, vấn đề đặt ra là làm sao tiêu diệt được sinh lực địch, kìm chân chúng dài ngày trong thành phố mà vẫn bảo toàn và phát triển được lực lượng của ta để kháng chiến lâu dài. Một bài toán lúc đầu đã mấy ai tìm được đáp số. Trải qua những ngày đầu bỡ ngỡ, từng bước nhận ra quy luật hành động của địch, cùng nhau suy nghĩ sáng tạo ra cách đánh có hiệu quả, tiêu hao được địch, đồng thời hạn chế được tổn thất của ta. Cách đánh nhỏ lẻ, rộng khắp, nảy sinh trong phong trào “bắn tỉa, săn tây” là những kinh nghiệm ban đầu rất quý giá rút ra từ cách đánh du kích trên đường phố Hà Nội những ngày đầu kháng chiến toàn quốc.

Tinh thần và quyết tâm diệt địch cộng với cách đánh cụ thể dần dần được xác định đúng đắn, là những yếu tố trực tiếp giúp quân và dân Thủ đô trưởng thành trong chiến đấu, cướp súng của địch trong từng trận để từng bước cải tiến trang bị của ta, không ngừng phát triển lực lượng và điều quan trọng nhất là cuối cùng đã hoàn thành vượt mức nhiệm vụ trên giao, cả về tiêu hao lực lượng địch và thời gian bám trụ dài ngày.

II

Đặc điểm hai tháng chiến đấu của quân và dân thủ đô Hà Nội

1. Cuộc chiến đấu 60 ngày đêm ở Hà Nội là cuộc chiến đấu có chuẩn bị từng bước vững chắc trong một thời gian dài(4). Được sự chỉ đạo của Thường vụ Trung ương, Bộ Quốc phòng- Tổng chỉ huy và của Thành ủy, nhịp độ công tác chuẩn bị chiến đấu ở Thủ đô tăng dần lên trong quá trình diễn ra ngày càng trắng trợn âm mưu, hành động khiêu khích và gây hấn của Pháp.

Tự vệ và nhân dân Thủ đô Hà Nội bố trí vật cản chặn địch ở khu chợ Đồng Xuân.
Ảnh tư liệu.

Trong điều kiện quân Pháp đã có mặt trong thành phố, đóng quân xen kẽ với ta trên từng đường phố, việc chuẩn bị chiến đấu của ta gặp không ít khó khăn. Nguyên tắc đề ra là phải bảo đảm bí mật, không tỏ thái độ khiêu chiến, không để chúng viện cớ để khiêu khích ta và cũng không mắc mưu khiêu khích của chúng, không để nổ ra xung đột sớm. Được sự giúp đỡ của nhân dân, bộ đội Vệ Quốc đoàn, Tự vệ thành và Công an xung phong đã triển khai công tác chuẩn bị từng bước vững chắc, việc gì cần và có thể làm trước thì làm trước, cũng có việc chỉ có điều kiện hoàn thành ngay sát giờ nổ súng như ngả cây to, hạ cột điện, làm ba-ri-cát sát nơi địch đóng quân… Do chủ động và có kế hoạch nên công tác chuẩn bị đã dần dần tạo thêm điều kiện thuận lợi để các lực lượng tham gia chiến đấu sẵn sàng chủ động bất ngờ đồng loạt nổ súng tiến công địch trong toàn thành phố khi có lệnh. Song song với việc chỉ đạo chuẩn bị chiến đấu của bộ đội, mọi công tác của cơ quan Tổng hành dinh, từ xây dựng kế hoạch tác chiến, chỉ đạo chuẩn bị chiến trường, bố trí lực lượng, huấn luyện chiến đấu bổ sung ngay trên địa bàn dự kiến, hoàn thành hệ thống tổ chức chỉ huy, động viên chính trị tư tưởng, đến chỉ đạo tản cư nhân dân, di chuyển các cơ quan Chính phủ và bộ máy lãnh đạo kháng chiến cùng cơ sở vật chất kỹ thuật ra ngoài thành phố… tất cả đều được triển khai bí mật, nhịp nhàng, chủ động.

Biết dự kiến thời gian chuẩn bị sao cho phù hợp và chỉ đạo chuẩn bị đúng hướng, đúng lúc, đồng bộ, toàn diện, chu đáo và bí mật, nên bộ máy điều hành các cấp, từ Bộ Tổng chỉ huy đến đơn vị cơ sở đã tạo thêm điều kiện để bộ đội bám trụ dài ngày và đánh thắng địch ngay từ đêm đầu trên địa bàn Thủ đô.

2. Cuộc chiến đấu bảo vệ Thủ đô không diễn ra trong điều kiện địch từ ngoài đánh vào, mà chúng đã có mặt 9-10 tháng trên địa bàn thành phố. Trước giờ nổ súng và trong suốt hai tháng chiến đấu, địch và ta xen kẽ trong từng khu vực, từng đường phố. Trong tổng số trên dưới 50 vị trí, có 6 vị trí quan trọng địch tập trung binh lực lớn, từ 250 quân (như ở trường Bưởi) đến 1.800 quân (sân bay Gia Lâm). Một số mục tiêu, theo quy định của Hiệp định tham mưu hoặc Hiệp nghị liên kiểm, quân ta cùng gác chung với quân Pháp(5).

Bên cạnh 6.500 quân chính quy, trong thành phố địch còn một lực lượng chừng 7000 Pháp kiều được trang bị vũ khí ở rải rác trong khu vực hồi đó thường gọi là “khu phố tây”. Ngoài ra, chúng còn một mạng lưới gián điệp, phần lớn là tàn dư của Việt quốc, Việt cách để lại cùng với bọn Hán gian sau khi quân Tưởng rút khỏi thành phố, làm tay sai cho chúng trong quá trình chuẩn bị và diễn biến chiến đấu.

Với đặc điểm quân đội hai bên xen kẽ như vậy, vấn đề đặt ra là phải thường xuyên đề cao cảnh giác, vừa bảo đảm bí mật trong quá trình chuẩn bị chiến đấu, vừa đề phòng địch bất ngờ thực hiện kế hoạch đảo chính theo tinh thần chỉ thị trung tuần tháng 4 của tướng Valuy (khi đó còn là chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở miền Bắc Việt Nam)(6). Tuy nhiên, đặc điểm địch-ta ở xen kẽ trong thành phố cũng tạo thêm một điểm yếu đối với địch mà ta có thể tận dụng, đó là binh lực của chúng phân tán, dễ bị ta bất ngờ tiêu diệt khi có lệnh nổ súng.

Tự vệ và các cảm tử quân Hà Nội trong những ngày toàn quốc kháng chiến.
Ảnh tư liệu.

Ta đã dựa vào kết quả điều tra để phân tích thế bố trí xen kẽ, phân tán và tương đối cố định của địch để vừa xây dựng kế hoạch tác chiến vừa đề phòng và ngăn chặn âm mưu đảo chính của chúng, đồng thời chủ động triển khai lực lượng theo phương án tác chiến đã định, khiến quân Pháp bị bất ngờ trước tiếng súng tiến công đồng loạt của ta đêm 19-12.

3. Hai tháng chiến đấu của quân và dân Hà Nội được sự chỉ đạo thường xuyên và kịp thời của Bộ thống soái tối cao và có quan hệ mật thiết với hoạt động của các chiến trường toàn quốc.

Trong 60 ngày đêm chiến đấu, quân và dân Hà Nội đã phát huy cao độ tinh thần tự lực tự cường, chủ động sáng tạo giải quyết nhiều vấn đề do thực tế chiến đấu đặt ra, như chọn cách đánh trong từng tình huống cụ thể, chọn thời cơ rút vào Liên khu 1, điều chỉnh và phát triển lực lượng, chọn thời cơ và phương thức lui quân bí mật, an toàn ra khỏi thành phố sau khi hoàn thành nhiệm vụ v.v..

Đặc biệt, suốt quá trình chuẩn bị cũng như trong diễn biến chiến đấu, ngoài sự chỉ đạo chỉ huy trực tiếp của Bộ chỉ huy Khu 11, Mặt trận Hà Nội luôn được sự chỉ đạo sát sao của Bộ Quốc phòng-Tổng chỉ huy, của Thường vụ Trung ương và nhất là được Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên theo dõi động viên. Nhờ sự quan tâm của Bộ Thống soái tối cao mà việc xây dựng kế hoạch tác chiến, chỉ đạo cách đánh, điều chỉnh chiến trường (nhất là việc Bộ Tổng chỉ huy sớm quyết định việc mở rộng địa bàn hậu phương Mặt trận Hà Nội về phía Hà Đông-Sơn Tây), điều động lực lượng tăng viện, giải quyết vấn đề hậu cần tiếp tế, động viên các chiến trường cả nước chia lửa với Thủ đô v.v.. đã được cấp chiến lược đặc biệt quan tâm chỉ đạo phối hợp trong suốt mấy tháng đầu kháng chiến toàn quốc. Quân và dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ đẩy mạnh hoạt động theo tinh thần chỉ thị ngày 16-12-1946 của Thường vụ Trung ương. Các thành phố Huế, Đà Nẵng và nhất là Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương ra sức tiêu hao, kìm chân và căng kéo địch, hạn chế tăng viện của địch cho mặt trận Hà Nội.

Lực lượng vũ trang cả ba Liên khu của Mặt trận Hà Nội, đặc biệt là Liên khu 1, đã kiên cường đương đầu với địch suốt hai tháng ròng, nêu một tấm gương chiến đấu tiêu biểu cho cả nước, xứng đáng với vị trí chiến lược quan trọng nhất, địa bàn trọng điểm của cuộc tổng giao chiến.

Đối lại, thắng lợi của Mặt trận Hà Nội đã có tác dụng cổ vũ rất lớn đối với các chiến trường, củng cố lòng tin vào khả năng chiến đấu và chiến thắng đối với quân dân các địa phương trong cả nước. Kết quả tiêu hao và kìm chân địch suốt 60 ngày đêm trong thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho các ngành, các cấp, các địa phương chuyển toàn bộ đời sống xã hội sang thời chiến một cách chủ động, đầy tự tin. Về thế chiến lược quân sự toàn cục, hai tháng chiến đấu của quân và dân Hà Nội đã tác động thuận lợi đối với nhiều chiến trường trong cả nước. Riêng đối với Nam Bộ, như nhận xét của nhà sử học Phi-líp Đơ-vin, quân Pháp đã thất bại trong ý đồ “đánh cú quyết định vào đầu não” hòng tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc bình định miền Nam, cứu nguy cho Nam Bộ, nơi mà tình hình bi đát tới mức tướng lĩnh Pháp cảm thấy “đất đang sụt lở dư­ới chân mình”(7).

Quá trình diễn biến cuộc chiến đấu ở Hà Nội, quân Pháp rất mong nhanh chóng mở rộng chiến sự ra ngoại thành, “truy lùng và tóm gọn” cơ quan lãnh đạo kháng chiến để kết thúc chiến tranh. Nhưng quân và dân Thủ đô đã buộc chúng phải chôn chân dài ngày trong thành phố. Trong 60 ngày đêm đó, cơ quan lãnh đạo kháng chiến vẫn đứng chân bí mật an toàn ở vùng Chương Mỹ, sát kề Hà Nội, chỉ cách thành phố chừng 20km đường chim bay. Tại đó, sự chỉ đạo các chiến trường trong cả nước vẫn được giữ vững. Cũng tại đó, hai cuộc hội nghị quan trọng(8) đã được triệu tập nhằm phát hiện và giải quyết kịp thời những vấn đề ở tầm chiến lược cả về quân sự và chính trị do thực tế những ngày đầu kháng chiến đặt ra.

4. Cuộc chiến đấu của quân và dân Thủ đô có sự kế thừa những bài học kinh nghiệm ban đầu của các chiến trường bạn đã đi trước trong cuộc đọ sức với địch.

Cuộc kháng chiến nổ ra ở Hà Nội khi mà nhiều chiến trường từ Nam chí Bắc (Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Tây Bắc, Hải Phòng, Lạng Sơn …) đã trải qua thực tế chiến đấu với địch. Sài Gòn là thành phố đi đầu, trước Hà Nội 15 tháng và gần nhất là Hải Phòng và Lạng Sơn, trước Hà Nội một tháng. Mỗi địa phương một vẻ, các tình huống chiến lược đều không giống nhau, nhưng những kinh nghiệm còn rất sơ lược ấy ít nhiều đã giúp cho Bộ Thống soái tối cao cũng như Bộ chỉ huy Đặc khu 11 những hiểu biết cần thiết phục vụ cho quá trình chỉ đạo chuẩn bị và thực hành chiến đấu. Mặc dù lúc này cơ quan tham mưu chiến lược còn hạn chế về nhiều mặt (kiến thức nghiệp vụ, khả năng nắm tình hình địch, trình độ tổ chức chỉ huy, trang bị kỹ thuật…) nhưng, với trách nhiệm và sự cố gắng cao nhất của mình, Bộ Tổng tham mưu đã tạo điều kiện cho Bộ chỉ huy Khu 11 nắm được những vấn đề mấu chốt nhất trong kinh nghiệm lãnh đạo và chỉ huy của các chiến trường đã trải qua cọ xát với địch.

Nét đặc sắc trong kinh nghiệm của Sài Gòn và nhất là Hải Phòng là làm thế nào hạn chế được uy lực của xe tăng cơ giới địch cơ động trên đường phố. Vật cản, ụ ba-ri-cát… hình thành trong cái mà Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội Vương Thừa Vũ gọi là “chiến thuật cài then cửa”, là bước phát triển kinh nghiệm của Sài Gòn, Hải Phòng được vận dụng vào điều kiện cụ thể của Hà Nội. Từ thực tế của Hải Phòng, bài học rút ra là phải luôn đề cao cảnh giác và tỉnh táo, không để kẻ địch khiêu khích, đánh trước hay tìm cớ thực hiện mưu đồ đảo chính. Mặt khác phải chủ động chuẩn bị sẵn sàng tiến công địch. Nhiệm vụ và cũng là khẩu hiệu hành động trên đề ra cho quân và dân Hà Nội hồi đó là: Quyết không bị bất ngờ, không để sự kiện Hải Phòng tái diễn trên đường phố Thủ đô!.

Rõ ràng kinh nghiệm của các chiến trường đi trước là rất quý đối với Mặt trận Hà Nội, góp một phần quan trọng vào thắng lợi trong hai tháng chiến đấu liên tục của quân và dân Thủ đô.

***

Những tính chất và đặc điểm trên đây liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại và bổ sung lẫn cho nhau, quy tụ lại tạo thành những yếu tố quyết định thắng lợi của quân và dân Thủ đô, cụ thể là hoàn thành vượt mức nhiệm vụ chiến lược trên giao. Với thắng lợi có ý nghĩa chiến lược quan trọng đó, Mặt trận Hà Nội đã thể hiện trọn vẹn vai trò chiến trường trọng điểm trong cuộc tổng giao chiến của quân và dân ta trong những ngày đầu kháng chiến toàn quốc.

Trần Trọng Trung

(4). Chín tháng chuẩn bị từng bước (nếu tính từ khi quân Pháp vào Thủ đô ngày 18-3-1946); hai tháng chuẩn bị cụ thể trực tiếp (nếu tính từ Hội nghị Quân sự toàn quốc ngày 19-10-1946). Công tác chuẩn bị hoàn tất về cơ bản một tuần lễ trước ngày nổ súng, tức là ngày 13-12-1946, ngày Bộ Quốc phòng – Tổng chỉ huy triệu tập hội nghị các Khu trưởng từ Mặt trận Trung Bộ trở ra để kiểm tra tình hình chuẩn bị chiến đấu của các chiến trường.

(5). Như nhà Ngân hàng Đông Dương, ga Hàng Cỏ, Sở Liên kiểm Việt – Pháp, nhà máy điện, máy nước, máy đèn Bờ Hồ, cầu Long Biên, nhà in IDEO…

(6). Chỉ thị ngày 10-4-1946 của tướng Va-luy viết: Mỗi vị trí đóng quân phải có kế hoạch phòng thủ, đồng thời có kế hoạch sẵn sàng tiến công làm chủ thành phố…, phải thường xuyên bổ sung hoàn chỉnh kế hoạch để sẵn sàng biến tấn kịch của cuộc hành binh mang tính chất đơn thuần quân sự thành một màn đảo chính.

(7). Xem Pa-ri-Sài Gòn-Hà Nội của Phi-líp Đơ-vin, Tạp chí Ga-li-ma, Pa-ri 1988.

(8). Hội nghị các Khu trưởng (12 đến 16-1-1947), hội nghị Quân ủy Trung ương mở rộng (14 đến 16-2-1947).

Tính chất và đặc điểm 60 ngày đêm chiến đấu ở Hà Nội (Phần 1)

qdnd.vn

Tính chất và đặc điểm 60 ngày đêm chiến đấu ở Hà Nội (Phần 1)

Tháng Mười Hai 18, 2011 Phản hồi đã bị khóa

QĐND – Đêm 19-12-1946, quân và dân Hà Nội đã cùng cả nư­ớc nổ súng tiến công địch, mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc. Ngoài những nét chung, hai tháng chiến đấu của quân và dân Hà Nội còn có những tính chất và nhất là những đặc điểm riêng của một địa bàn trung tâm của cả nư­ớc, một chiến trường có vị trí chiến lư­ợc đặc biệt quan trọng. 

I

Tính chất hai tháng chiến đấu của quân và dân Thủ đô Hà Nội 

 1. Đó là cuộc chiến đấu chính nghĩa, tự vệ, một bộ phận của cuộc chiến tranh cách mạng, chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân cả nư­ớc chống đế quốc Pháp xâm lư­ợc. Cuộc chiến đấu nổ ra khi nhân dân đã trở thành chủ nhân của đất nước, chủ nhân của Thủ đô nư­ớc Việt Nam dân chủ cộng hòa, đã trải qua 16 tháng đấu tranh và tr­ưởng thành từng bư­ớc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, ngày càng gắn bó với chế độ mới, quyết tâm giữ vững thành quả cách mạng đã giành được.

Cũng như­ nhân dân cả nư­ớc, quân và dân Thủ đô Hà Nội mong muốn có hòa bình để xây dựng đất nước sau khi giành chính quyền. Đư­ợc sự giáo dục của các đoàn thể trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân nhận thức đúng cái giá phải trả trong cuộc chiến tranh chống một kẻ thù lớn mạnh. Bởi vậy, tuân theo lệnh của chính quyền thành phố, mọi ngư­ời kiên trì nín nhịn suốt từ ngày quân Pháp trở lại sau Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946. Suốt 9 tháng, không manh động, không mắc m­ưu khiêu khích của quân Pháp, các tầng lớp nhân dân đều thể hiện ý thức kỷ luật rất cao, bình tĩnh đợi lệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho Chính phủ đấu tranh ngoại giao, nhằm gạn chắt những khả năng hòa hoãn nhỏ nhất trong quan hệ Pháp – Việt.

Người dân Hà Nội đổ ra đường nghe Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Ảnh tư liệu

Như­ng thực dân Pháp ngoan cố, quyết tâm thực hiện âm m­ưu đánh chiếm Thủ đô, trái tim của cả nước. Cũng nh­ư nhân dân các dân tộc trong cả nước, quân và dân Hà Nội không còn con đư­ờng nào khác, tự nguyện đi tới một sự lựa chọn duy nhất để bảo vệ chủ quyền, bảo vệ Thủ đô: Đó là đứng lên cầm súng cùng đồng bào cả nư­ớc chiến đấu tự vệ với tinh thần quyết tử để Tổ quốc quyết sinh! 

2. Đó là cuộc chiến đấu đã đạt tới đỉnh cao của cuộc đọ sức quyết liệt nhất giữa ta và địch trong những ngày đầu kháng chiến toàn quốc.

Do vị trí chiến lư­ợc của Thủ đô nên ngay sau khi vào Hà Nội, quân Pháp đã coi đây là mục tiêu số 1 trong âm mư­u xâm lư­ợc của chúng đối với miền Bắc, là “chặng cuối cùng của sự nghiệp giải phóng” như­ lời tuyên bố ngạo mạn của tổng chỉ huy Pháp Lơ-cléc. Phía Pháp không ngừng tăng cư­ờng binh lực trái phép, trang bị cho Pháp kiều, tập hợp bọn tay sai, tổ chức mạng l­ưới tình báo gián điệp, chuẩn bị và thực hành kế hoạch đảo chính hòng lật đổ chính quyền cách mạng Việt Nam. Chúng coi việc “đánh vào đầu não” là biện pháp hữu hiệu nhất để “nhanh chóng buộc nhóm cầm quyền ở Hà Nội hiện nay phải biến đi”(1), quân Pháp sẽ làm chủ thành phố và một chính quyền thân Pháp sẽ đư­ợc dựng lên.

Quán triệt tư­ tư­ởng chỉ đạo của Thư­ờng vụ Trung ư­ơng Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, được sự giúp đỡ trực tiếp của Bộ Quốc phòng – Tổng chỉ huy và Tổng bộ Việt Minh, Thành ủy và Ủy ban Hành chính Kháng chiến Hà Nội đã lãnh đạo quân dân Thủ đô từng bư­ớc xây dựng lực lư­ợng về mọi mặt. Sau Hội nghị Quân sự toàn quốc (họp ngày 19-10-1946 ở Hà Nội), công tác chuẩn bị chiến đấu ngày càng khẩn trương, theo tinh thần chỉ thị của đồng chí Tổng bí thư­ Trư­ờng Chinh: Không để bị bất ngờ, sẵn sàng chiến đấu tiêu hao và kìm chân địch trong thành phố càng dài ngày càng tốt.

So với cả nư­ớc, đến trư­ớc ngày 19-12-1946, Hà Nội là nơi tập trung lớn nhất lực lư­ợng của ta và địch, với quân số và trang bị kỹ thuật cao nhất có thể huy động đư­ợc, đồng thời cũng là nơi tập trung cao độ sự chỉ đạo chỉ huy của cả hai bên, chuẩn bị cho một cuộc đọ sức quy mô lớn và có ý nghĩa chiến lược quan trọng nhất.

Quá trình diễn biến chiến đấu, địch ra sức tăng cường binh lực hòng nhanh chóng đẩy lùi LLVT của ta ra khỏi thành phố. Về phía ta, theo mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy, các địa phư­ơng lân cận như­: Sơn Tây, Hà Đông – hậu phư­ơng trực tiếp của Thủ đô cũng bổ sung lực lượng cho Mặt trận Hà Nội. Với sự chỉ đạo chỉ huy tập trung, với quyết tâm giành giật từng đường phố, từng căn nhà trong cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt suốt hai tháng ở Thủ đô, quân và dân Hà Nội đã tiêu hao và kìm chân địch, hoàn thành vư­ợt yêu cầu nhiệm vụ mà cả nước đã ủy thác cho chiến tr­ường trọng điểm mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc. 

3. Đó là cuộc chiến đấu ngay từ đầu đã thể hiện khá đầy đủ những điểm cơ bản nhất cả vềhình thức và nội dung của cuộc chiến tranh nhân dân, được các tầng lớp xã hội đông đảo trong thành phố tham gia. Có đư­ợc sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân sát cánh chiến đấu, trư­ớc hết là do kết quả động viên giáo dục lâu dài của các đoàn thể trong Mặt trận Việt Minh và Liên Việt trong suốt 16 tháng, từ ngày Tổng khởi nghĩa thắng lợi đến ngày Toàn quốc kháng chiến.

Với hàng chục vạn hội viên cứu quốc – mà nòng cốt là hơn 400 đảng viên cộng sản trong từng khu phố, nhà máy, xí nghiệp …, thông qua các cuộc vận động chính trị trong suốt quá trình xây dựng chính quyền và bảo vệ chế độ mới, các tầng lớp nhân dân Thủ đô ngày càng nhận thức sâu sắc nghĩa vụ và trách nhiệm của ng­ười làm chủ Thủ đô của nư­ớc Việt Nam mới. Trước những hành động khiêu khích ngày càng trắng trợn của quân Pháp diễn ra hằng ngày trên đường phố, công tác giáo dục và động viên về tình hình và nhiệm vụ do các đoàn thể trong Mặt trận Việt Minh và Liên Việt tiến hành, ngày càng tạo thành động lực thúc đẩy mọi tầng lớp nhân dân, già trẻ, gái trai, sẵn sàng hy sinh chiến đấu, sống chết với Thủ đô. Biết bao cá nhân và gia đình đã tự nguyện biến ngôi nhà thân thư­ơng mang nặng dấu ấn tuổi thơ của mình, cùng với mọi đồ vật trong nhà, từ sập gụ, tủ chè đến bàn ghế thành những chướng ngại vật trên đường phố, những ụ súng chiến đấu của bộ đội và tự vệ.

Ngay từ những ngày chiến đấu đầu tiên, tại Mặt trận Hà Nội không chỉ có các chiến sĩ Vệ Quốc đoàn, tự vệ, công an xung phong trực tiếp cầm súng chiến đấu tiêu hao tiêu diệt địch. Đối mặt với quân Pháp, cả trong những giờ phút thử thách quyết liệt nhất, còn có đông đảo nhân dân thành phố, từ em bé 10-12 tuổi đến cụ già, từ ngư­ời dân nghèo, buôn thúng bán mẹt, công nhân, xích lô, đến nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ nhiếp ảnh…, tất cả đều góp phần tiêu hao tiêu diệt địch theo khả năng và bằng phương pháp, phương tiện riêng của mình. Phục vụ lực lượng vũ trang chiến đấu là một đội ngũ hậu cần hùng hậu, bao gồm đông đủ chị em phụ nữ mọi thành phần xã hội Thủ đô.

Những ngư­ời dân bình th­ường, những chiến sĩ vô danh không mặc áo lính ấy đã bảo đảm đư­ờng dây liên lạc, tiếp tế, đã sát cánh cùng bộ đội và tự vệ để ngày đêm chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Cũng chính những chiến sĩ vô danh ấy đã giữ bí mật, bảo đảm an toàn và có ngư­ời đã anh dũng hy sinh, góp phần quyết định vào thắng lợi của cuộc rút lui thần kỳ của Trung đoàn Thủ Đô ra khỏi thành phố sau khi hoàn thành nhiệm vụ.

Suốt hai tháng chiến đấu, xen kẽ với tiếng súng diệt địch trong từng căn nhà, góc phố, ngõ chợ, là tiếng đàn hát động viên bộ đội cùng với tiếng loa địch vận vang lên bằng nhiều thứ tiếng nư­ớc ngoài. Tờ báo của Mặt trận đư­ợc xuất bản tại chỗ đã đến với các chiến sĩ đều đặn. Những cuộc gặp gỡ giữa cán bộ chỉ huy của ta với đại diện lãnh sự quán một số nư­ớc còn ở lại trong thành phố vẫn diễn ra, khi công khai, khi bí mật, thể hiện một dạng thức ngoại giao đặc thù trong thời chiến.

Dù còn ở mức thấp, nh­ưng rõ ràng là 60 ngày đêm chiến đấu ở Thủ đô đã bước đầu mang những nội dung manh nha nhưng đích thực của cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, những mầm mống của sự kết hợp giữa quân sự với chính trị, binh địch vận, ngoại giao… Từ những hình thức và nội dung manh nha đó, khái niệm về chiến tranh nhân dân ngày càng đư­ợc định h­ướng cụ thể và không ngừng phát triển cả về lý luận và thực tiễn trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ sau này. 

4. Đó là cuộc chiến đấu kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và phòng ngự, là cách đánh du kích trong thành phố, trong điều kiện lực l­ượng so sánh giữa ta và địch rất chênh lệch(2). Nhiệm vụ chiến lược trên giao cho quân và dân Thủ đô Hà Nội là phải giam chân địch trong thành phố càng dài ngày càng tốt, tạo điều kiện cho cả n­ước chuyển sang thời chiến; chiến đấu tiêu hao địch đi đôi với bảo tồn lực lư­ợng ta và bảo vệ nhân dân để kháng chiến lâu dài.

Để thực hiện nhiệm vụ chiến lư­ợc đó trong điều kiện địch đang chuẩn bị hòng chủ động “đi đến một hành động quân sự nhằm…buộc đối phương phải hạ bài” (Hồi ký của Giăng Xanh-tơ-ni), quân và dân Hà Nội không bị động chờ đợi mà chủ động chuẩn bị và tiến công trư­ớc quân địch trong toàn thành phố ngay khi có lệnh. Tiếp đó là suốt hai tháng chiến đấu liên tục: Một người, một tổ cũng đánh, một quả lựu đạn, một chai xăng krếp, một bom ba càng cũng tiến công địch. Thực tế đó giải thích vì sao trong bản chỉ lệnh ngày 20-12-1946 (sau một ngày chiến sự nổ ra ở Hà Nội và trong toàn quốc), tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp, tư­ớng  Ê-chiên Va-luy, phải kêu gọi binh lính “Các bạn hãy cùng nhau nghiến răng chịu đựng… Cuộc chiến đấu còn diễn ra ác liệt, như­ng chẳng bao lâu các bạn sẽ đư­ợc tăng viện … Hãy dũng cảm lên, hỡi các chiến binh sư­ đoàn 9…”(3).

TRẦN TRỌNG TRUNG  

1. Tuyên bố ngày 17-1-1946 của Lê-ông Pi-nông, cố vấn chính trị của Cao ủy Ác-den-li-ơ.

2. Lực lượng so sánh khi bước vào chiến đấu: Quân số tập trung: Địch 2,6;  ta 1 (nếu kể cả tự vệ của ta và Pháp kiều vũ trang thì địch 1,3; ta 1); Súng bộ binh: Địch 2,6; ta 1 (ba chiến sĩ ta mới có một khẩu súng với 6-7 viên đạn); Pháo binh: địch 4,7; ta 1 (pháo binh của địch là lựu pháo của Mỹ, pháo binh của ta là mấy khẩu cao xạ cũ của Nhật, chuyển sang ứng dụng thành pháo mặt đất, không bảng bắn, không máy ngắm). Địch hơn hẳn ta về máy bay, xe tăng, xe cơ giới và ca-nô tàu chiến trên sông.

3. Dẫn theo hồi ký của tướng Ra-un Xa-lăng, Thời báo Pa-ri 1971.

qdnd.vn

Nghệ thuật giành và giữ quyền chủ động kháng chiến

Tháng Mười Hai 16, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Kỷ niệm 65 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946/19-12-2011)

QĐND - Thực hiện mục tiêu “bóp nghẹt” chính quyền cách mạng non trẻ, tái khôi phục toàn bộ thuộc địa Việt Nam và Đông Dương, sau khi đánh chiếm Nam Bộ, thực dân Pháp lần lượt đổ bộ vào Đà Nẵng, Đồ Sơn, đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn và chuẩn bị ráo riết đánh chiếm thủ đô Hà Nội… Chúng ngạo mạn ra tối hậu thư đòi tước khí giới của quân đội, tự vệ, công an ta. Sau nhiều lần thương lượng, nhân nhượng không thành, Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định tổ chức kháng chiến toàn dân, toàn diện và trường kỳ, đánh bại kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp; tạo thời cơ, điều kiện để ta chuẩn bị lực lượng và căn cứ địa kháng chiến lâu dài, thúc đẩy tiến trình phát triển của cách mạng.

Dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng các cấp, nhân dân và lực lượng vũ trang các địa phương đã dũng cảm chiến đấu, tiến công, giáng cho địch những đòn bất ngờ, mà tiêu biểu là 60 ngày đêm chiến đấu can trường của quân và dân Hà Nội (19-12-1946/18-2-1947). Thành công này khẳng định sự trưởng thành của các lực lượng vũ trang cách mạng; đánh dấu bước phát triển đầu tiên của nghệ thuật giành và giữ quyền chủ động kháng chiến.

19/12/1946: Phát lệnh toàn quốc kháng chiến. Ảnh internet.

Với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, ta đã chủ động xây dựng quyết tâm, kế hoạch tác chiến, lựa chọn khu vực tác chiến chủ yếu trong nội thành Hà Nội, kiên quyết phát động kháng chiến đúng thời cơ nhằm giáng một đòn bất ngờ, đảo lộn thế trận, buộc địch phải lúng túng đối phó. Các đơn vị tổ chức thành hai bộ phận chủ yếu: Bộ phận tác chiến ngăn chặn, tiến công bất ngờ ngay từ đầu làm rối loạn thế trận của địch; kết hợp trụ bám, chốt giữ, kìm chân địch trong thành (Liên khu I-Trung đoàn Thủ đô) với lực lượng chốt chặt các cửa ô, tập kích, phục kích bên sườn, phía sau (Liên khu II, III-Trung đoàn Thăng Long) tạo thế bao vây liên hoàn nhiều tầng, nhiều lớp, làm cho địch trong ngoài đều bị đánh, không thể tập trung lực lượng. Phối hợp với Hà Nội, các địa phương: Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hồng Gai, Vinh, Nam Định, Huế cũng nổ súng đánh địch. Nam Bộ đẩy mạnh các hoạt động kháng chiến phối hợp với miền Bắc, ở đâu quân Pháp cũng vấp phải sức chiến đấu dai dẳng, quyết liệt của quân, dân ta làm cho chúng lúng túng đối phó. Ngoài ra, ta còn huy động lực lượng lớn quần chúng nhân dân tham gia xây dựng công sự vật cản, chướng ngại vật trên các tuyến phố ngăn chặn xe tăng, xe cơ giới; vận chuyển lương thực, đạn dược… phục vụ chiến đấu. Các ngôi nhà trong phố cổ được đục thông nhau, liên hoàn dọc các phố làm cơ sở để bộ đội Liên khu 1 chủ động sử dụng lối đánh áp sát, “xuất quỷ nhập thần” rất hiệu quả, gây thiệt hại lớn cho quân Pháp.

Bị giam chân, nên từ cuối tháng 12-1946, quân Pháp tập trung thông Đường số 5, đưa viện binh từ Hải Phòng lên. Từ ngày 15-1-1947, địch tiếp tục mở những cuộc tiến công mới trên đường vòng cung Vĩnh Tuy, Ngã tư Trung Hiền, Ngã tư Vọng, Ô Cầu Giấy… kiểm soát được vòng cung bao quanh thành phố. Trước tương quan lực lượng bất lợi cho ta, các lực lượng vũ trang của ta điều chỉnh thế trận, từ 6-2-1947, sau khi chiến đấu bẻ gãy nhiều đợt tấn công của địch vào Liên khu I, diệt hàng trăm tên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; đêm 17-2-1947, bộ đội ta bí mật, bất ngờ rút lui qua vòng vây của địch, vượt sông Hồng sang Phúc Yên. Trải qua 60 ngày đêm chiến đấu ngoan cường, quân và dân Hà Nội đã tiêu diệt hơn 2000 tên địch, phá hủy hàng chục xe cơ giới, bảo toàn được lực lượng.

Năm 1946 nằm trong tổng thể chiến lược của cuộc kháng chiến toàn quốc, toàn dân, toàn diện và trường kỳ của Đảng; trong đó, chiến công 60 ngày đêm chiến đấu ngoan cường của quân và dân Hà Nội mang ý nghĩa một đòn đánh chiến lược quan trọng, làm cho quân Pháp đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Trong chiến dịch này, ta đã bất ngờ tiến công lúc địch ngông cuồng và sơ hở; sử dụng lực lượng tổng hợp đánh cả bên ngoài và bên trong vào nội thành, hãm địch vào thế nguy khốn, làm cho chúng lúng túng, không kịp trở tay.

Có thể khẳng định, chủ trương Toàn quốc kháng chiến 1946 của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, sáng suốt, là một trong những nét xuất sắc trong nghệ thuật chỉ đạo của Đảng, nghệ thuật quân sự Việt Nam nói chung, nghệ thuật giành và giữ quyền chủ động kháng chiến, giành thắng lợi từng bước trong chiến tranh cách mạng nói riêng.

Trần Văn Toản

qdnd.vn

Chiến thắng Tu Vũ – niềm tự hào của quân dân Tây Bắc

Tháng Mười Hai 16, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Kỷ niệm 60 năm chiến thắng Tu Vũ (10-12-1952/10-12-2011):

QĐND Online – Sau thất bại ở chiến trường biên giới Thu Đông 1950, tiếp đó lại bị đánh mạnh ở trung du và một số địa bàn khác, quân Pháp lâm vào thế phòng ngự bị động. Để giành lại quyền chủ động trên chiến trường, mùa đông năm 1951, chúng mở cuộc tiến công lên Hòa Bình với tham vọng xây dựng “Xứ Mường tự trị”, thực hiện chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mở rộng khu chiếm đóng, tăng cường phòng ngự phía tây nam đồng bằng Bắc Bộ, ngăn chặn đường vận tải và liên lạc của ta từ Việt Bắc với Liên  khu 3 và 4.

Để đạt được tham vọng đó, quân Pháp đã xây dựng cứ điểm Tu Vũ (thuộc xã Tân Tiến, huyện Thanh Sơn) nay là xã Tu Vũ, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Cứ điểm Tu Vũ được xây dựng với hệ thống các lô cốt, hầm ngầm, ụ chiến đấu kiên cố, có hào chiến đấu, hào giao thông nối liền tạo thành thế liên hoàn vững chắc được bao bọc với nhiều lớp hàng rào thép gai xen kẽ các bãi mìn dày đặc. Xung quanh cứ điểm được phát quang thành một vành đai “trắng”, rộng khoảng trên 100m. Phía tây bắc cứ điểm, địch bố trí một sân bay dã chiến. Trên cồn cát giữa sông Đà là một số công sự chiến đấu.

Xe thiết giáp của Pháp, ta thu được trong trận Tu Vũ

Tại đây, ngoài một tiểu đoàn thuộc trung đoàn bộ binh Ma- rốc thứ nhất thiện chiến, còn được tăng cường một đại đội thuộc tiểu đoàn ngụy Mường thứ 6 và 6 xe tăng, xe thiết giáp. Địch tổ chức phòng ngự ở cứ điểm thành 3 khu A, B và C. Mỗi khu đều có nhiều lô cốt chiến đấu và hỏa lực mạnh. Riêng khu B đặt sở chỉ huy được chúng tăng cường nhiều loại vũ khí như ĐKZ 57 mm, pháo 37 mm, 1 lô cốt lớn và nhiều ụ chiến đấu. Khi cần Tu Vũ còn được yểm trợ của 19 khẩu pháo từ 3 trận địa ở Đá Chông, Chẹ, Thủ Pháp bên hữu ngạn sông Đà và được tăng viện lực lượng từ canô, tầu chiến theo đường sông.

Với quyết tâm bằng mọi giá phá tan kế hoạch chiếm đóng của địch trên cả mặt trận Hoà Bình và vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ; tiêu diệt bằng được cứ điểm Tu Vũ  vì đây là một vị trí quan trọng nằm trong tuyến phòng thủ then chốt phân khu sông Đà của địch và là hướng chủ yếu của ta tiến công đánh địch ở Hoà Bình. Quân và dân Tây Bắc, đặc biệt là quân và dân tỉnh Phú Thọ được Tổng quân ủy và Bộ Chỉ huy chiến dịch giao nhiệm vụ phối hợp với Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) đánh địch bên tả ngạn sông Đà, tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh quân viện trên sông từ Tu Vũ đến thị xã Hoà Bình.

Ngày 10-12, tiếng súng mở màn chiến dịch Hoà Bình bắt đầu nổ trên tất cả các hướng. 17 giờ cùng ngày, Trung đoàn 88 và lực lượng vũ trang địa phương được lệnh tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ. Theo kế hoạch hiệp đồng, đúng 20 giờ Trung đoàn 88 chia làm 3 mũi tiến công chiếm lĩnh trận địa, Tiểu đoàn 29, chiếm lĩnh phía đông, tiến đánh khu B, Tiểu đoàn 23 đánh phía bắc khu A, Tiểu đoàn 322 đột nhập khu vực đông nam diệt khu C. Phát hiện bị bao vây tiêu diệt, hoả lực của địch từ trong cứ điểm và ở 3 vị trí yểm trợ kháng cự quyết liệt, tạo thành một vành đai lửa bao quanh cứ điểm. Các đơn vị của ta bị pháo địch bắn dữ dội, nhưng với tinh thần anh dũng, kiên cường, quyết chiến, quyết thắng, cán bộ, chiến sỹ bí mật tiếp cận mục tiêu, triển khai lực lượng, hình thành thế bao vây, cắt gỡ một phần hàng rào, dùng hỏa lực chế áp quân địch, thọc sâu chia cắt tiêu diệt từng bộ phận, tiến tới tiêu diệt toàn bộ sinh lực địch…Cuộc chiến tại đây diễn ra vô cùng ác liệt, sau hơn 5 giờ chiến đấu, Trung đoàn 88 và lực lượng vũ trang địa phương đã làm chủ hoàn toàn cứ điểm Tu Vũ; tiêu diệt 155 tên, bắt sống 12 tên, phá huỷ 4 xe tăng xe, xe thiết giáp, 1 tàu chiến, 7 ụ súng; thu 10 súng đại liên và nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng khác.

Chiến thắng Tu Vũ là một trong những trận đánh xuất sắc, có ý nghĩa châm ngòi, mở màn của chiến dịch Hoà Bình, làm rung chuyển tuyến phòng thủ sông Đà của địch; ta hoàn toàn làm chủ tả ngạn sông Đà, khai thông đường vận chuyển từ hậu phương Việt Bắc tới Hòa  Bình. Đây là chiến thắng đầu tiên quân đội ta tiêu diệt một tiểu đoàn Âu – Phi tinh nhuệ của địch trong công sự vững chắc, tạo điều kiện để đập tan phòng tuyến sông Đà, khép chặt vòng vây, đánh thẳng vào thị xã Hòa Bình, làm thất bại âm mưu của địch đánh chiếm hậu phương để lập xứ Mường tự trị. Sau chiến thắng Tu Vũ, Trung đoàn 88 đã vinh dự được mang tên “Trung đoàn Tu Vũ”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi thư khen ngợi cán bộ, chiến sỹ và nhân dân địa phương, trong đó có đoạn viết: “…Chiến thắng Tu Vũ là trận công kiên lớn nhất mở màn chiến dịch. Nó thể hiện tinh thần hy sinh quả cảm, tích cực tiêu diệt địch và tính chủ động, linh hoạt trong chiến đấu… “.

Trong những năm tháng ác liệt đó, quân và dân Tây Bắc nói chung và tỉnh Phú Thọ nói riêng; đặc biệt là xã Tu Vũ và các địa bàn lân cận đã đồng cam, cộng khổ, kiên cường, anh dũng chiến đấu bảo vệ quê hương. Mặc dù bị địch kìm kẹp, khống chế, nhưng nhân dân luôn một lòng, một dạ tin tưởng và hướng về cách mạng, Chi bộ Đảng và chính quyền xã bí mật hoạt động, bám dân, bám làng, huy động sức người, sức của cùng bộ đội chiến đấu chống lại kẻ thù.

Về Tu Vũ hôm nay, phát huy truyền thống đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang, Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc xã Tu Vũ ra sức thi đua, đồng tâm, hiệp lực; gắn phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với tăng cường tiềm lực quốc phòng- an ninh; xây dựng quê hương ngày càng khởi sắc. Các công trình điện, đường, trường, trạm được đầu tư xây dựng cơ bản góp phần làm thay đổi diện mạo quê hương và nâng cao đời sống nhân dân. Đảng bộ xã 10 năm liên tục đạt trong sạch vững mạnh, UBND và các đoàn thể được công nhận vững mạnh toàn diện. Lực lượng vũ trang địa phương luôn đạt danh hiệu đơn vị quyết thắng.

Những địa danh, tên đất, tên làng như Tu Vũ, Đồng Xuân, Bò Ngang, núi Yên Lãng, Ngòi Lát… và đặc biệt tượng đài Chiến thắng Tu Vũ vừa mới hoàn thành, uy nghi trên chiến trường xưa thêm minh chứng cho những chiến công oanh liệt của quân và dân Tây Bắc trong chống giặc ngoại xâm, là biểu tượng sinh động của lòng quả cảm và tinh thần yêu nước, sẽ mãi trường tồn cùng năm tháng.

 Bài, ảnh: Ngô Văn Hùng

qdnd.vn

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.