Trang chủ > Chiến tranh Việt Nam > Nghệ thuật chọn hướng, mục tiêu chủ yếu

Nghệ thuật chọn hướng, mục tiêu chủ yếu

Tháng Tư 10, 2011

Chiến dịch Tây Nguyên tháng 3-1975

QĐND – Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết (ngày 27-1-1973), so sánh lực lượng ở miền Nam đã thay đổi căn bản, có lợi cho ta và bất lợi cho địch. Nắm thời cơ, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp từ 18-12-1974 đến 8-1-1975 hạ quyết tâm: Làm mọi công tác chuẩn bị, tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, tiêu diệt toàn bộ quân địch từ Trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân. Nếu thời cơ đến sớm thì giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, ta mở chiến dịch Tây Nguyên (từ 4-3 đến 24-3-1975). Thắng lợi của chiến dịch đã giải quyết thành công nhiều vấn đề về nghệ thuật quân sự, nổi bật là nghệ thuật chọn hướng và mục tiêu tiến công chủ yếu. Trong Chiến dịch Tây Nguyên, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định chọn Nam Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu và Buôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu. Đó là sự lựa chọn đúng đắn, sắc sảo về vận dụng không gian và phù hợp điều kiện thực tế chiến trường.

Bộ đội ta làm chủ các mục tiêu ở thị xã Buôn Ma Thuột ngày 11-3-1975. Ảnh tư liệu.

Trong toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch ở chiến trường Tây Nguyên khi đó, Nam Tây Nguyên nói chung, Buôn Ma Thuột nói riêng là vị trí hiểm yếu, nhưng lại tương đối yếu. Hiểm yếu vì đó là hậu phương chiến dịch, là thủ phủ và cũng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của địch ở Tây Nguyên, nằm sâu trong vùng địch kiểm soát, nối Đông Nam Bộ với Tây Nguyên và Sài Gòn, là cửa ngõ xuống Khánh Hòa-Nha Trang và tiến ra Plei-cu, Kon Tum. Mặt khác, so với Plei-cu và Kon Tum, lực lượng của địch ở Buôn Ma Thuột mỏng, yếu và bố trí có nhiều sơ hở, cô lập hơn. Cụ thể, địch tập trung ở Buôn Ma Thuột chỉ có 20% lực lượng, còn lại 80% ở Plei-cu. Địch cho rằng, ta không đánh Buôn Ma Thuột, vì chưa hội đủ điều kiện để đánh lớn, trước hết là không bảo đảm đủ hậu cần-kỹ thuật, nhất là chưa bảo đảm được việc cơ động cho xe tăng và pháo cơ giới vượt sông Sê-rê-pốc, nếu ta đánh thì đánh Kon Tum vì năm 1972, ta đã tiến công Kon Tum.

Địa hình ở Buôn Ma Thuột tương đối bằng, có nhiều đường lâm nghiệp, ven thị xã có nhiều khu rừng kín đáo trải dài trên một dải địa hình tương đối bằng có độ cao từ 420m đến 480m. Xung quanh thị xã, cách từ 2km đến 5km và từ 10km đến 15km có các điểm cao 596, Chư Bua, Chư Duê, Chư Blim, điểm cao 491… Các ấp dân và những thảm rừng thưa, rừng khộp không liên hoàn, xen kẽ các trảng tranh và sình lầy; sông suối rất ít và nhỏ. Thời tiết vào mùa khô, tiện cho cơ động và tác chiến hiệp đồng quân binh chủng, tiện cho các binh đoàn chiến dịch binh chủng hợp thành cơ động tiếp cận và triển khai đột phá địch trên nhiều hướng, đánh thẳng vào mục tiêu, khu vực phòng ngự then chốt, tạo thế áp đảo, phá vỡ thế trận địch, tiêu diệt các cụm quân chủ yếu trong thị xã, nhanh chóng giành được thắng lợi triệt để. Ngoại trừ sông Sê-rê-pốc cách thị xã khoảng 10km về phía Tây, hai bên bờ vách đá, nước chảy xiết, gây khó khăn cho việc trinh sát, tập kết vật chất, binh khí kỹ thuật và cơ động triển khai lực lượng. Địch ở đây bị cách trở các căn cứ phía Bắc Tây Nguyên và đồng bằng, khả năng ứng cứu và chi viện cho nhau bị hạn chế nhiều.

Buôn Ma Thuột là chiến trường quen thuộc, phù hợp với khả năng tác chiến của ta, chiếm được Buôn Ma Thuột, ta có điều kiện cơ động tiến công mở ra các hướng, phát triển thuận lợi vào chiều sâu phòng ngự của địch. Theo Đường 14 ra hướng Bắc, ta có thể uy hiếp thị xã Plei-cu, vào hướng Nam, ta có thể đánh chiếm Gia Nghĩa và tiến vào Đông Nam Bộ; theo tỉnh lộ 7B, ta có thể tiến công thị xã Cheo Reo và từ đó phát triển về Tuy Hòa; theo đường 21, ta có thể tiến xuống Nha Trang và Cam Ranh, “cắt đôi” miền Nam, điều mà Mỹ lo sợ nhất lúc bấy giờ. Như vậy, chọn Buôn Ma Thuột làm mục tiêu tiến công chủ yếu, ta đã điểm trúng “huyệt”, đánh đúng vào nơi hiểm yếu, khiến cho địch tan rã.

Thực tiễn chứng minh, sau khi ta làm chủ Buôn Ma Thuột, địch bị giáng đòn choáng váng, vội vã rút khỏi Plei-cu và Kon Tum, tạo ra một thời cơ lớn, một sự đột biến về chiến dịch, chiến lược, buộc địch phải thay đổi chiến lược rút bỏ Tây Nguyên về giữ các tỉnh ven biển miền Trung, tạo điều kiện cho ta đẩy cuộc tổng tiến công lên cao trào mới – cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam. Thắng lợi của trận Buôn Ma Thuột nói riêng, chiến dịch Tây Nguyên nói chung khẳng định sự lựa chọn hướng và mục tiêu tiến công chủ yếu đúng đắn, sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, góp phần tạo nên thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Nghệ thuật chọn hướng, xác định mục tiêu chủ yếu trong Chiến dịch Tây Nguyên tháng 3-1975 vẫn còn nguyên giá trị, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển cho phù hợp với điều kiện mới, vận dụng sáng tạo vào huấn luyện, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của bộ đội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đại tá Đào Văn Đệ

%d bloggers like this: