Trang chủ > Hồ sơ mật của CIA > Giờ phút định mệnh – Kỳ X

Giờ phút định mệnh – Kỳ X

Tháng Tư 11, 2011

Âm mưu đi vòng qua người Hungary

Bộ Chỉ huy Chiến dịch tổng công kích và nổi dậy giải phóng Sài Gòn đã đề nghị Bộ Chính trị đặt tên chiến dịch là “Chiến dịch Hồ Chí Minh” và 19 giờ ngày 14/4/1975, bằng bức điện số 37/TK, Bộ Chính trị đã “Đồng ý chiến dịch Sài Gòn lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh”. Ngày 22/4/1975, Bộ chỉ huy Chiến dịch duyệt lại lần cuối cùng kế hoạch chính thức của Chiến dịch Hồ Chí Minh. Bản đồ quyết tâm chiến dịch được trải rộng ra trên bàn. Tư lệnh Chiến dịch Văn Tiến Dũng và Chính ủy Phạm Hùng cùng ký vào bản đồ quyết tâm đó.

(Nguồn: Đại thắng Mùa xuân của Đại tướng Văn Tiến Dũng)

Mặc dù dấu hiệu việc Hà Nội sắp đập tan chế độ Sài Gòn bằng sức mạnh quân sự đến tay Polgar rất nhiều, Polgar vẫn không từ bỏ hy vọng về một cuộc đàm phán ngừng bắn.

Ngày 17/4, Polgar phản ứng mạnh đối với tuyên bố chính thức của Nhà Trắng rằng cơ quan ngoại giao quá bận rộn không thể đàm phán một giải pháp chính trị và ngừng bắn ở Nam Việt Nam.

Polgar tìm được sự ủng hộ của Giám đốc CIA Colby về một cuộc vận động chính sách ngoại giao ở Mỹ để tiếp tục đàm phán với Bắc Việt trong tuyệt vọng.

Polgar khăng khăng nài nỉ rằng “sự thất bại của Mỹ đã dẫn sang bước thực hiện chiến lược ngoại giao, và chỉ nhờ ngoại giao mới có thể ngăn cản hoặc trì hoãn được một kết cục bi thảm sẽ ghim lên nước Mỹ về trách nhiệm chống một cuộc đổ máu không cần thiết”.

Ngày 18/4, Polgar lại phản ứng với trả lời gây sốc của ông Philip Habib, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ, trên báo chí Mỹ rằng Nhà Trắng lo lắng cho những người Việt làm việc cho Mỹ ở VNCH, và có kế hoạch di tản nhân viên người địa phương.

Nếu tuyên bố này là đúng và lan tới Sài Gòn thì đúng là “một đòn trời giáng” gây ra cơn hoảng loạn mới ở Nam Việt Nam. Đại sứ Martin có cớ lén lút lên kế hoạch di tản cho 350 nhà báo, và tướng Đặng Văn Quang, Cố vấn An ninh của Thiệu, nói với Martin một cách thân mật rằng chính quyền VNCH sẽ không phản đối. CIA Sài Gòn tiếp tục giả vờ như họ sẽ di tản những người bản xứ cùng thân nhân.

Polgar lúc ấy tin rằng, tùy thuộc hoàn cảnh, Nhà Trắng sẽ khuấy lên một sự hoảng loạn nếu cho hoặc không cho di tản người Việt. Nhưng bất kể trường hợp nào, Sứ quán Mỹ cũng đã tính toán với Cơ quan Nhập cư Mỹ là nhân viên làm cho Mỹ cùng thân nhân họ có thể được di tản, và sẽ mất thời gian nhiều giờ.

Với cách này thì cộng đồng Mỹ kiều ở Nam Việt Nam được di tản sẽ bị cắt giảm, bởi mỗi ngày đang có hàng trăm người xin thẻ cư trú và hệ thống ở Sứ quán Mỹ đang vận hành êm dịu.

Polgar không có lý do gì để xem xét việc di tản cho nhân viên người Việt ở văn phòng CIA Sài Gòn với các nhà báo. Báo cáo gửi về tổng hành dinh CIA, Polgar nhận định, với sức tấn công hiện nay, Bắc Việt có thể vào đến Sài Gòn vượt trước dự tính của Washington một vài tuần, nên cần di tản Phái bộ Mỹ nhanh hơn.

Đồng thời Polgar (dù không được độc lập cung cấp chi tiết) muốn tổng hành dinh CIA biết rằng “Đại sứ Mỹ Martin và Đại sứ Pháp Merillon đã có sáng kiến để Tổng thống Thiệu tự nguyện từ chức”.

Cùng ngày 18/4, đại tá Janos Toth, thành viên đoàn quân sự Hungary đóng tại Trại Davis đến gặp Polgar. Toth là đại diện cho trưởng đoàn Hungary tại Ủy ban Liên hiệp Quân sự Quốc tế giám sát thực thi Hiệp định Paris nên thường làm việc với phái đoàn quân sự Bắc Việt trong sân bay Tân Sơn Nhất.

Toth ám chỉ với Polgar rằng việc kết thúc cuộc chiến ở Nam Việt Nam sẽ sớm hơn độ một tuần và, theo phân tích của các sĩ quan Hungary dựa trên “tư duy logic của những người xã hội chủ nghĩa” thì Bắc Việt chắc phải thu hẹp sức tấn công hơn là mở rộng tổng công kích vào Sài Gòn.
Những ngày tiếp theo, việc Polgar tiếp xúc với Toth và những người đồng hương Hungary khác được nhận thông tin từ những đồng nghiệp từ Hà Nội của họ, đã dẫn ông ta đến nhiều kết luận. Đầu tiên là việc Bắc Việt thời gian qua quyết định dồn sức tấn công quân sự mà chưa cần giải pháp đàm phán. Thứ hai, Bắc Việt thực sự sẵn sàng nối lại đàm phán nếu Thiệu ra đi khỏi ghế Tổng thống VNCH.

Một chính phủ kế nhiệm sẽ làm công việc “chấm dứt chiến tranh như trong điều khoản Hiệp định Paris” và Sứ quán Mỹ sẽ được giới hạn hoạt động ngoại giao ở mức “bình thường và truyền thống”. Những người Hungary nghĩ chỉ cần một vài ngày để thiết lập kênh đối thoại theo hướng này vì Bắc Việt chân thật, không muốn làm Mỹ bẽ mặt. Nhưng Toth đã suy đoán ngờ nghệch.

Dù vậy Martin và Polgar vẫn chia sẻ quan điểm theo đuổi một cuộc đàm phán ngừng bắn. Đại sứ Martin chớp thông tin mà Polgar lấy từ người Hungary với Kissinger. Mãi đến 19/4, khi Toth phản ánh rằng “khát khao giải phóng Nam Việt Nam của Hà Nội xác đáng hơn ý định của người Mỹ về đàm phán trong khuôn khổ Hiệp định”, Martin mới thất vọng.

Ông ta buộc phải đưa ra thảo luận kế hoạch đưa quân đội Mỹ vào yểm trợ cho cuộc di tản người Mỹ bằng trực thăng, và tạm quyết định sẽ thiết lập một cầu hàng không trực thăng một chiều sẽ chở ra tàu khu trục của Hải quân Mỹ khoảng 1.600 người; cầu hàng không trực thăng hai chiều sẽ chở đi 3.200 người.

Nhưng, để thực hiện được, Mỹ phải đưa vào Sài Gòn một sư đoàn lính thủy đánh bộ và một sư đoàn không quân thuộc Hải quân để hỗ trợ di tản. Martin dự kiến thời gian thực hiện cuộc di tản này là trong ba tuần nữa.

Đồng thời, để an toàn cho cuộc di tản, Martin cho Polgar dùng đường điện thoại riêng của Đại sứ để báo cáo kế hoạch này với Kissinger, để yêu cầu Kissinger liên lạc với Liên Xô nhờ ra tín hiệu với Bắc Việt để họ dành vài ngày cho người Mỹ di tản.

Nhưng Kissinger điện trả lời là “không thể” dù sáng đó Kissinger có một cuộc liên lạc với Liên Xô

TP – Nhà Trắng úp mở việc  thảo luận về “tình huống đặc biệt cần thiết” với Liên Xô, đồng nghĩa với  việc đánh tiếng cho ông Thiệu phải từ chức.

Kissinger (phải) và Đại sứ Bunker tháng 4/1973 (Ảnh do Polgar chụp)

Kissinger điện mật cho Martin nói rằng, Tổng Bí thư Liên Xô Leonid Brezhnev nhắn là “Hà Nội đã tìm được mục tiêu chính trị cuối cùng nên không quan tâm đến việc làm bẽ mặt Mỹ nữa”.

Đến nước này thì Thiệu phải ra đi thôi. Nhưng hai ngày 20 và 21/4 ở Sài Gòn lại rơi vào  thứ Bảy và Chủ nhật nên Martin rất khổ để gặp được Thiệu.

Ngày 21/4, tại Sài Gòn, Martin bắn tiếng cho Thiệu rằng nên từ chức, với cách nói như đây chỉ là theo ý riêng cá nhân của ông ta. Martin cho Thiệu xem bản đồ của CIA về tình hình rất bi đát của VNCH để thuyết phục Thiệu.

Dàn xếp vừa xong, Martin lại nhận được mật điện rất lạ từ Kissinger, với ý muốn trì hoãn việc Thiệu từ chức. Nhưng ông Martin không chịu, lờ đi không thi hành.

Sáng 21/4, Polgar lại tiếp xúc với Toth, đại tá quân đội Hungary ở Trại Davis (trong sân bay Tân Sơn Nhất) với yêu cầu làm rõ những điều kiện của phía Bắc Việt với Mỹ để cuộc đàm phán ngừng bắn được bắt đầu. Toth bảo Polgar, việc đó ông ta phải hỏi Đại sứ Hungary tại Hà Nội và cam đoan nếu có thông tin sẽ báo ngay cho Polgar.

Chiều hôm đó,  Toth báo lại với Polgar là Đại sứ Hungary không trả lời được, nhưng Polgar vẫn cho rằng việc Thiệu từ chức là điều kiện tiên quyết để Bắc Việt chấp nhận đàm phán ngừng bắn.

Sau cuộc gặp Đại sứ Martin, Thiệu họp với các tướng lĩnh trong Dinh Độc Lập thông báo nội dung Martin đề cập và nói đại ý, nếu các tướng lĩnh coi Tổng thống là chướng ngại vật cho đàm phán ngừng bắn thì ông sẽ từ chức.

Chẳng ai phát biểu gì cả! Thiệu buộc phải tuyên bố từ chức để Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay. Chiều 21/4, Thiệu lên truyền hình thông báo quyết định từ chức, lòng đầy cay đắng.

Sáng 25/4, bốn ngày sau khi tiếp nhận chức Tổng thống, ông Trần Văn Hương gọi điện cho Martin phàn nàn rằng người ta nói ông chỉ điều hành một nội các Thiệu mà không có Thiệu. Ông Hương yêu cầu Đại sứ Martin dàn xếp để  Thiệu ra nước ngoài. Sau đó ông Hương tới chỗ ông Thiệu khuyên ông sớm rời khỏi Sài Gòn vì nếu không, cộng sản sẽ nói “tôi đang điều khiển một chính phủ Thiệu không có Thiệu”.

Thiệu ngập ngừng nhưng nửa tiếng sau gọi điện cho Martin nói đồng ý và nhờ Martin thu xếp chuyến ra đi lặng lẽ khỏi Nam Việt Nam. Để hợp pháp hóa chuyến đi của Thiệu, ông Hương ký văn bản đề cử Thiệu làm đặc sứ VNCH sang Đài Bắc viếng Tưởng Giới Thạch vừa qua đời ngày 5/4. Martin một mặt nhờ Polgar bố trí, một mặt điều chiếc máy bay C-118 thuộc quyền sử dụng của ông từ Bangkok bay sang Sài Gòn trong đêm 25/4.

Chiều muộn, Polgar và tướng Timmes đón Thiệu và đoàn tuỳ tùng ở nhà cựu Thủ tướng Khiêm (từng là Đại sứ VNCH tại Đài Bắc) nằm  trong Bộ Tổng tham mưu. Polgar chuẩn bị bốn chiếc công xa màu đen của Tòa Đại sứ Mỹ cắm cờ ngoại giao, chở mọi người ra sân bay Tân Sơn Nhất. Martin yêu cầu tất cả lái xe đều là người Mỹ, nên chiếc Mercedes cũ chở Thiệu do Frank Snepp, nhân viên phân tích tình báo của CIA Sài Gòn lái.

Đoàn xe chạy đến chân cầu thang máy bay, Đại sứ Martin đợi sẵn ở đó để tiễn Thiệu. 14 người, tất cả là đàn ông lặng lẽ lên máy bay. Buồn thảm và cam chịu, Thiệu vẫn cố giữ phong độ, quay lại cám ơn Đại sứ Martin dàn xếp chuyến đi. Polgar điện về tổng hành dinh CIA. “Đúng 21 giờ 20 giờ Sài Gòn, cựu Tổng thống  Thiệu, cựu Thủ tướng Khiêm di tản khỏi Nam Việt Nam”.

Polgar cam đoan Thiệu không thể mang 16 tấn vàng (thời giá lúc đó tương đương 170 triệu dollar) sang Đài Bắc trong chuyến bay đó. Số vàng này thuộc ngân khố dự trữ quốc gia của VNCH và hồi cuối tháng 3/1975, Thiệu có ý định đem nó ra thế chấp để vay tiền từ Arập Xê út để mua vũ khí cho quân đội.

Đại sứ Martin đã thu xếp giúp để chuyển vàng ra gửi ngân hàng nước ngoài cho an toàn.  Ban đầu, Martin thu xếp để chuyển 16 tấn vàng này sang gửi ở ngân hàng Thụy Sĩ có tên Bank of International Settlement  nhằm thế chấp cho khoản vay mua vũ khí từ châu Âu, nhưng tin này lộ ra nên không hãng hàng không thương mại nào nhận chở.

Martin lại  thu xếp chuyển nó sang gửi  tại ngân hàng Dự trữ Liên bang New York. Nhưng  trong khi Mỹ chưa ký được hợp đồng bảo hiểm cho chuyến bay chở số vàng này rời Nam Việt Nam thì ông Thiệu đã ra đi.

(còn nữa)

Tô Nam lược dịch

%d bloggers like this: