Trang chủ > Sự kiện Vịnh Bắc Bộ > Bịa đặt để gây chiến tranh

Bịa đặt để gây chiến tranh

Tháng Tư 16, 2011

Cuộc hải chiến ngày 2-8-1964 chụp từ tàu Maddox

TTCN – 40 năm sau vụ “tấn công tàu Maddox” dẫn đến sự kiện vịnh Bắc bộ, Cơ quan tàng thư An ninh Quốc gia, Viện đại học Washington hôm 4-8-2004 đã công bố một số tư liệu mới về sự kiện này. TTCN trích giới thiệu một trong những tư liệu vừa công bố do tiến sĩ Prados chấp bút.

“…Gần đây, sự kiện vịnh Bắc bộ thường được viện dẫn đến, gắn với cuộc chiến tranh tại Iraq, nơi chính quyền Tổng thống George Bush cũng nêu ra như là những mối đe dọa đối với Mỹ nhằm đạt đến việc quốc hội chấp thuận sử dụng vũ lực. Một lần nữa các đòi hỏi này cho thấy chúng dựa trên các chứng cứ tình báo mơ hồ và còn có thể bị ngụy tạo.

40 năm trước, đúng vào ngày 4-8-2004, Tổng thống Johnson và các quan chức Mỹ cao cấp nhất đã tin rằng Bắc VN vừa mới tấn công các tàu khu trực của Mỹ trong vịnh Bắc bộ, cho dù các bức điện truyền tin mà họ (quân Bắc VN) trao đổi với nhau (quân đội Mỹ kiểm tra được) lại mô tả trận hải chiến trước đó hai ngày, trận đánh phát xuất từ các cuộc tấn công của biệt kích Mỹ vào Bắc VN.

Ai trả đũa ai?

Chính quyền Johnson luôn khẳng định đã rất kiềm chế trong hành động, đã không trả đũa ngay sau vụ tấn công của hải quân Bắc VN ngày 2-8-1964, chỉ trả đũa sau cuộc tấn công thứ nhì ngày 4-8-1964. Trong thực tế, vào thời điểm đó Hoa Kỳ đang tiến hành một chương trình tấn công miền Bắc VN bằng các đơn vị biệt kích hải quân (gọi tắt là biệt hải) sau khi được Tổng thống Johnson phê duyệt vào tháng 1-1964 theo kế hoạch hành quân 34-A  nhằm gây sức ép, thúc giục Hà Nội phản ứng lại. Các lý lẽ mà chính quyền Johnson đưa ra về sự kiện vịnh Bắc bộ đã được chứng minh là không chính xác.

Trước hết, chính quyền Johnson lập luận rằng các tàu chiến Mỹ đã chỉ xuất hiện trong vịnh Bắc bộ nhằm biểu thị sự hiện diện của Mỹ, như một chuyến “hải hành vô tội” đúng theo luật pháp quốc tế. Cuộc hải chiến giữa khu trục hạm Maddox và các tàu phóng ngư lôi của Bắc VN ngày 2-8-1964 đã diễn ra ngay sau một loạt các cuộc tấn công vào các mục tiêu nằm trên bờ biển Bắc VN, trong đó có hòn Mê và hòn Nẹ mà tàu Maddox đã đến thật sát trước khi diễn ra cuộc đụng độ. Nhiệm vụ của tàu Maddox là thám sát hoạt động radar của Bắc VN cùng các phát sóng truyền tin khác có thể có sau mỗi đợt tấn công biệt kích theo kế hoạch 34-A.

Bộ trưởng quốc phòng McNamara, trong cuộc điện đàm đầu tiên với tổng thống Johnson về trận hải chiến, đã nêu vấn đề này. Tổng thống muốn bộ trưởng Mc Namara họp riêng với các lãnh tụ quốc hội để báo cáo tình hình. McNamara có mô tả kế hoạch 34-A có nêu tên hai hòn đảo, số tàu tham gia tấn công, số đạn dược đã bắn cùng các chi tiết khác, song ông ta đã báo cáo đó là các cuộc tấn công của hải quân Sài Gòn, còn Mỹ chẳng dính líu gì.

Trong thực tế các cuộc đột kích biệt hải 34-A hoàn toàn do Mỹ kiểm soát, sử dụng tàu bè của hải quân Mỹ. Phía Sài Gòn chỉ tham gia chiến dịch 34-A này bằng cách chịu trách nhiệm về số lính biệt hải do họ tuyển mộ. Các lính biệt hải này hoàn toàn do Mỹ chỉ huy. Trong các cuộc điều trần trước quốc hội ngày 6-8-1964, McNamara nói: “Hải quân chúng ta tuyệt đối không tham gia gì cả, không kết hợp với Nam VN, thậm chí không hề hay biết gì cả.” Đặc biệt, McNamara sau này còn khẳng định rằng các vụ đột kích 34-A là “để trả đũa Bắc VN xâm lược”.

Sau vụ hải chiến đầu tiên ngày 2-8, tổng thống Johnson ra lệnh cho một tàu khu trực thứ nhì Turner Joy đến hỗ trợ tàu Maddox và cả hai quay trở lại vịnh Bắc bộ. Đêm 4-8, cả hai tàu cho rằng đã bị tấn công nên đã gửi điện báo cáo có đụng độ với đối phương, có thủy lôi dưới biển, và cứ thế nã đạn pháo vào một đối thủ giả định là có. Căn cứ theo lời khai đó tàu chiến Mỹ đã “vô tội” khi đi qua vịnh Bắc bộ, thế nên tổng thống đã ra lệnh trả đũa và kêu gọi quốc hội thông qua nghị quyết cho phép ông khởi sự cuộc chiến tranh VN.

Cuộc tấn công không bằng cớ

Các chứng cứ về một “cuộc tấn công thứ nhì” – cuộc tấn công đêm 4-8 – càng không hề rõ rệt. Đã chẳng có dấu tích gì của tàu Bắc VN bị đánh chìm hoặc xác thủy thủ Bắc VN trên biển, chẳng có được bức ảnh nào. Các tín hiệu radar và sonar (kiểm thính tàu ngầm) chỉ cung cấp một mớ hỗn độn dữ kiện mà thôi.

Các phi công của hàng không mẫu hạm USS Ticonderoga được phái đi yểm trợ hai tàu khu trục “bị tấn công” cũng thuật lại như thế. James B. Stockdale, người chỉ huy phi vụ tiếp ứng, đã chẳng nhìn thấy quân địch song lại có lúc nhìn thấy tàu Turner Joy chĩa nòng súng nhắm vào tàu Maddox. Stockdale, sau này giải ngũ với cấp bậc đô đốc, đã viết: ”Tuyệt nhiên không hề có súng nổ, ngoại trừ súng của phe ta, chẳng có đợt tấn công nào của ngư lôi đỉnh đối phương cả. Chẳng hề có gì xảy ra, chẳng có một vụ chạm súng nào trong đêm tối như mực đó. Nếu có thì đã nhìn thấy điểm khai hỏa rồi”.

Để kết luận, tiến sĩ John Prados viết: “Nếu thay vài chữ trong các phát biểu trích dẫn trên như thay từ “ngư lôi đỉnh” bằng “vũ khí hủy diệt hàng loạt”, từ “Hà Nội” bằng từ “Baghdad” , các điểm tương đồng với ngày hôm nay là đầy ắp.

(Trích hồi ký của Daniel Ellsberg, người tiết lộ “Hồ sơ mật Lầu Năm Góc”):

Năm 1971, Daniel Ellsberg lần đầu tiên  tiết lộ những thông tin mật về lịch sử cuộc chiến VN cho tờ “New York Times” và một số báo khác, gọi là “Hồ sơ mật Lầu Năm Góc”. Năm ngoái,  Daniel Ellsberg tung ra hồi ký “Secrets – a memoir of Vietnam and the Pentagon papers” (Bí mật: hồi ký về Việt Nam và hồ sơ Lầu Năm Góc). Các tiết lộ của Ellsberg một lần nữa cho thấy cuộc chiến của Mỹ ở VN là một sự lừa dối từ đầu đến đuôi. Như đoạn trong chương 1:

Sáng thứ ba 4-8-1964, lần đầu tiên tôi nhận nhiệm sở mới tại Lầu Năm Góc. Một tùy phái  đem đến một bức điện cho sếp của tôi. Do phụ tá bộ trưởng John McNaughton đã đi ra ngoài, các thư ký bảo anh ta đưa bức điện cho tôi, tân phụ tá đặc biệt Bộ Quốc phòng.

Bức điện đó của đại tá John J. Herrick, tư lệnh hải đội gồm hai tàu khu trục trong vịnh Bắc bộ, báo tin đang bị tàu tuần tiểu Bắc VN tấn công và ông ta đã nổ súng bắn trả. Thủy thủ trực sonar trên tàu chỉ huy của Herrick, chiếc Maddox, nghe thấy tiếng thủy lôi, và có tiếng thủy lôi khác vọt qua khỏi tàu Turner Joy. …

Vài phút sau, Herrick lại báo cáo có thủy lôi khác, rằng các chiến hạm do ông ta chỉ huy đã nô súng đánh trả, và có lẽ đã phá hủy một tàu đối phương, rằng họ đã chỉ nổ súng bắn qua màn hình radar chứ không do “mắt thấy”.

Các bức điện thật sống động. “Các thủy lôi bắn trật chúng tôi. Lại thêm thủy lôi khác nữa. Bốn thủy lôi dưới nước, năm thủy lôi dưới nước. Đã tránh được sáu thủy lôi”. Có đến 9, rồi 14, rồi 26 thủy lôi bắn vào hai chiếc tàu của Herrick: thủy lôi lúc nhúc trên biển. Lại có thêm tàu đối phương bị bắn trúng, ít nhất một chiếc chìm. Cuộc đụng độ kéo dài 45 phút đến 1 giờ.  Thế rồi tất cả đột ngột chấm dứt. Một bức điện được gửi đến, không đầy đủ chi tiết, song cũng đủ để đạt câu hỏi về tất cả những bức điện trước.

Herrick viết: “Nhìn lại diễn biến cho thấy một số cuộc đụng độ và phóng thủy lôi là mơ hồ đáng nghi ngờ. Thời tiết xấu đã tác động đến radar và sonar. Tàu Maddox đã không nhìn thấy bất cứ gì. Đề nghị đánh giá lại tình hình trước khi tiến hành bất cứ hành động gì”.

Thông tin mới này là cả một gáo nước lạnh. Các bức điện mới của Herrick đã chẳng làm chậm đi những chuẩn bị của Washington cho một cuộc không kích trả đũa thật sớm càng tốt.

HỮU NGHỊ

%d bloggers like this: