Trang chủ > Chiến tranh Việt Nam > Hành trình tới dinh Độc Lập (Bài 2)

Hành trình tới dinh Độc Lập (Bài 2)

Tháng Tư 20, 2011

Hội ngộ cố đô

Ôi cố đô! Thành phố mà chúng tôi đã nghe tên từ thời còn cắp sách tới trường! Thành phố mà suốt gần 3 năm qua chúng tôi từng ngày từng giờ mong ngày hội ngộ! Giờ đây tôi và đồng đội tôi đã thỏa niềm mong. Một cảm giác lâng lâng vui sướng, tự hào lan tỏa torng tôi. Tôi tự nhủ: “Hòa bình rồi nhất định mình sẽ phải quay lại nơi đây”.

  • Nước mắt sung sướng khi giải phóng Huế

Ngày thứ sáu, 25-3-1975

Quân giải phóng tiến vào thành phố Đà Nẵng

Ngay sau khi thông đường chúng tôi được lệnh chở theo bộ binh đi đánh La Sơn. Tiểu khu La Sơn nằm trên quốc lộ 1 và chỉ cách Huế hơn 20km. Thực ra lúc đó chúng tôi không nắm được lực lượng địch ở đó như thế nào nên tiến rất thận trọng. Trời gần sáng đại đội tôi đã đến sát La Sơn. Một không khí vắng lặng hiện ra trước kính quan sát. Những cái lô-cốt cũng im phăng phắc. Đoán là địch đã bỏ chạy chúng tôi ào lên chiếm La Sơn rồi thẳng tiến theo quốc lộ 1 đánh chiếm Phú Bài. Huế đã gần lắm rồi.

Dọc đường đã thấy ngổn ngang súng ống, quần áo rằn ri, có cả một cái xe tăng M48 đang nổ máy ngay cổng sân bay Phú Bài. Thêm ít phút nữa những căn nhà lúp xúp ngoại ô phía Nam thành Huế đã hiện ra trong kính ngắm. Vẫn một không khí vắng lặng bao trùm. Chúng tôi tiếp tục vượt cầu Phú Xuân vào chiếm thành Mang Cá. Nằm ở thành Mang Cá chừng non một tiếng chúng tôi được lệnh diễu quanh một số đường phố. Đến 4g chiều chúng tôi nhận lệnh truy kích địch ra cửa Thuận An.

Lực lượng tham gia truy kích địch ra cửa Thuận An gồm “C4” xe tăng của chúng tôi và một “xê” bộ binh. Nói vậy nhưng thực ra chỉ có khoảng 20 tay súng lên ngồi sau xe tăng của chúng tôi. Do không có phương tiện vượt sông, chúng tôi dừng lại ngay đầu bến phà Thuận An và triển khai đội hình sẵn sàng chiến đấu. Thực ra, với 4 chiếc xe tăng và 20 tay súng bộ binh – lực lượng chúng tôi quá mỏng nếu so với lực lượng địch đang tập trung cao độ ở quanh đó nên chúng tôi hết sức cảnh giác. Sau khi ổn định đội hình, xe 386 hướng pháo ra phía biển bắn 1 phát pháo và 1 tràng đại liên 12 ly 7 nhưng tất cả vẫn yên lặng như tờ!

Biết rằng lính địch vẫn đang ẩn nấp đâu đây, đại đội trưởng Bùi Quang Thận cuộn một miếng bìa làm loa gọi họ ra hàng. Sau ba bốn lần gọi lác đác những bóng người từ phía bờ sông đi lên, hai tay giơ cao lên đầu. Một người, hai người… rồi hàng đoàn lũ lượt từ nơi trú ẩn kéo ra. Có người còn kéo theo cả bầu đoàn thê tử, nhếch nhác và rệu rã đến tột cùng. Lúc đầu chúng tôi còn đếm, còn bắt tập trung thành từng nhóm rồi cho xe chở về Huế. Sau đông quá nên chỉ biết phát cho mỗi người một dải băng trắng, bảo họ buộc lên cánh tay trái rồi cứ về quê đợi hôm sau ra trình diện.

Mấy ngày ở đó, chúng tôi tranh thủ kiểm kê số phương tiện chiến tranh địch bỏ lại. Thật không thể tưởng tượng nổi, chỉ riêng xe tăng, xe bọc thép đã 54 cái. Ngoài ra còn hàng chục xe kéo pháo, xe tải, xe con các loại. Quả thật xe của họ có rất nhiều ưu điểm so với xe tăng của ta. Cái M48 nặng đến gần 50 tấn nhưng được điều khiển bằng vô lăng nhẹ nhàng như lái ô tô. Còn xe chúng tôi, cần lái lúc nào cũng 40-50 cân, kéo rã cả cánh tay. Tuy nhiên sức mạnh hỏa lực của họ lại kém. Mặc dù to xác như vậy nhưng chỉ lắp pháo 90 ly, thua hẳn pháo 100 ly của bọn tôi về mọi mặt. Mấy ngày đó, không chỉ cánh lái xe mà cả chỉ huy, trưởng xe, pháo thủ, pháo hai đều thi nhau luyện tay lái trên các loại xe của địch.

  • Đoàn xe tăng tiến vào Đà Nẵng

Ngày thứ mười, 29-3-1975

1g sáng chúng tôi được lệnh đi đánh Đà Nẵng. Khoảng 9g sáng chúng tôi đã đến Lăng Cô. Mặc dù phải tập trung sức lực và trí tuệ vào điều khiển xe tôi vẫn cảm nhận được vẻ đẹp đến nao lòng của một vùng quê mới lạ. Nhưng niềm phấn khích của chúng tôi bỗng bị “dội một gáo nước lạnh”: cầu Lăng Cô đã bị phá. Đúng lúc đó Đại đội 3 – người anh em cùng Tiểu đoàn 4 – từ phía sau vượt lên. Vì đó là đại đội xe tăng bơi nên họ nhanh chóng vượt sông làm chúng tôi càng sốt ruột. Bỗng ai đó kêu lên: “Hay là cho xe đi qua cầu đường sắt”.

Nhìn về phía thượng nguồn quả nhiên có một cây cầu đường sắt nằm cách đó vài chục mét còn nguyên vẹn. Đại đội trưởng Thận dẫn chúng tôi lên xem. Sau khi nghiền ngẫm một lúc, anh quả quyết: “Cứ liều một cái xem sao chứ chờ công binh làm ngầm thì không biết đến bao giờ!”. Quả thật đây là một quyết định khá liều lĩnh và có lẽ trong lịch sử sử dụng xe tăng chưa hề có tiền lệ. Nhưng cũng chính quyết định này đã cho phép chúng tôi vượt được sang bờ Nam để tiếp tục hành trình.

Quá trưa chúng tôi đến chân đèo Hải Vân. Trên đỉnh đèo mấy cái lô cốt còn đang nghi ngút cháy. Chúng tôi biết đó chính là chiến tích của Đại đội 3 nên lập tức đổ đèo, hành quân với tốc độ cao nhất. Khoảng 5g chiều chúng tôi đã có mặt ở ngoại ô Đà Nẵng. Lúc này chúng tôi được tin quân ta đã đánh chiếm được một số mục tiêu ở Đà nẵng. Song đây là thành phố rất lớn lại tập trung một lực lượng quân sự đông đảo của quân ngụy Sài Gòn nên tình hình còn rất lộn xộn và chưa ổn định. Cấp trên giao cho đại đội tôi chiếm thương cảng Bạch Đằng và bảo vệ khu trung tâm thành phố.

Được bộ đội địa phương dẫn đường, chúng tôi nhanh chóng đi sâu vào thành phố và sau gần một giờ đã đến đúng vị trí quy định. “C4” chúng tôi là đơn vị xe tăng duy nhất nằm ở giữa thành phố. Bao trùm lên tất cả là niềm vui, niềm tự hào khi được đặt chân lên một địa danh lịch sử, một căn cứ quân sự khổng lồ mà Mỹ – ngụy đã đổ bao tiền của để xây dựng. Tôi hạ ghế và thiếp đi trong làn gió sông Hàn mát rượi.

———————-

Bài 3: Thần tốc tiến về Sài Gòn

Nguyễn Khắc Nguyệt

SGGP Online

Advertisements
%d bloggers like this: