Trang chủ > Sự kiện Vịnh Bắc Bộ > Sự kiện Vịnh Bắc Bộ – Sự lừa dối với cả nước Mỹ (Kỳ 5)

Sự kiện Vịnh Bắc Bộ – Sự lừa dối với cả nước Mỹ (Kỳ 5)

Tháng Bảy 13, 2011

Cuộc điều trần của Bộ trưởng Quốc phòng McNamara trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ

“Năm 1964, với vài cuộc tranh luận ở Thượng viện cho đúng thủ tục, cuối cùng chỉ có 2 phiếu trắng, Thượng viện đã thông qua nghị quyết cho phép Tổng thống L. B.Johnson “dùng mọi biện pháp cần thiết để đẩy lùi cuộc tiến công vũ trang nào chống lại lực lượng của Hoa Kỳ và ngăn ngừa sự xâm lăng của cộng sản bắc Việt Nam”.

Cuộc đối thoại với Tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương

Vào 14 giờ 48 phút theo giờ miền đông nước Mỹ, tức là khoảng một giờ 20 phút sau khi nhận được bức điện, Tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương – chính xác hơn là chỉ huy lực lượng đặc nhiệm báo cáo Tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương rằng, ông ta chắc chắn cuộc phục kích đầu tiên là có thật. Đây là bức điện 41848Z. Những chi tiết của các hành động lúc đó dễ gây nhầm lẫn, nhưng ông ta đã nhìn thấy những ánh sáng từ khu vực chiến sự hoặc những ánh sáng tương tự chạy ngang gần tàu Maddox, và tàu Turner Joy báo cáo có hai ngư lôi trôi qua gần đó.

BTQP: Tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương cũng nghi ngờ. Theo tôi ông ta không nghi ngờ về việc đã xảy ra hay không một vụ tiến công, mà nghi ngờ tính chất và những chi tiết của vụ tiến công, và những mối nghi ngờ của ông ta xuất phát từ ít nhất hai lý do: Thứ nhất là, vì ông ta đã nhận được bản sao bức điện mà chúng tôi đã đề cập lúc nãy, bức điện 041727Z từ chỉ huy đội đặc nhiệm báo cáo những câu hỏi về tính chắc chắn của những chi tiết vụ việc này. Thứ hai là, Tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương tỏ ý nghi ngờ vì tôi đã gọi điện cho ông ta và nói rằng tôi đã đọc bức điện đó. Tôi đã nói với ông ta là tôi nghi ngờ những chi tiết của vụ tiến công. Tôi muốn ông ta kiểm tra chúng, cho tôi thêm bằng chứng, và để bảo đảm rằng không có hành động trả đũa nào được tiến hành chừng nào chưa loại bỏ hết các mối nghi ngờ về những gì đã xảy ra, hoặc chí ít là đủ để biện hộ cho hành động trả đũa.

Mệnh lệnh cho các tàu kiểu Swatow tiến công

NV Bader: Đây là bức điện từ tàu Turner Joy. Nhưng đây là một bản tổng hợp.

Tướng Wheeler (đọc bức điện): Chỉ huy đội đặc nhiệm 72.1 báo cáo vào lúc 2 giờ 35 phút tại vị trí vùng lân cận Điểm Delta, nghi ngờ Bóng Đỏ cách 15 hải lý về phía tây. Phát hiện radar đối phương cùng phương hướng.

CT: Bức điện này gửi vào lúc nào?

Tướng Wheeler: Vào 2 giờ 35 phút sáng theo giờ miền đông nước Mỹ.

Đại úy Sweitzer: Mã ngày của bức điện là 040635 Zulu.

CT: Đó là theo giờ địa phương?

Tướng Wheeler: Theo giờ địa phương sẽ là 14 giờ 35 phút.

CT: 2 giờ 35 phút?

Tướng Wheeler: 2 giờ 35 phút chiều.

CT: Buổi sáng?

Tướng Wheeler: Không phải, là buổi chiều. Tôi đã nói với ngài từ đầu là theo giờ miền đông nước Mỹ.

CT: Nghĩa là từ lâu trước khi xảy ra vụ tiến công.

Tướng Wheeler: Vâng.

CT: Xảy ra từ rất sớm, trước khi…

Đại úy Sweitzer: Vào buổi chiều. Cuộc tiến công diễn ra vào buổi tối.

CT: Bức điện gửi khoảng sáu giờ trước khi cuộc tiến công diễn ra.

Tướng Wheeler: Xấp xỉ sáu giờ.

CT: Đúng vậy chứ?

Tướng Wheeler: Đúng vậy.

CT: Lúc đó là 2 giờ 30 phút chiều 4-8. Tôi đã nghĩ rằng nó xảy ra sau đó. Đọc lại nó lần nữa. Giờ tôi đang hình dung toàn cảnh những gì đã diễn ra.

Cách thức đối phương định vị tàu chiến Mỹ

Tướng Wheeler: Tôi đã nhận được ba đáp án: có thể định vị theo sự khởi động của các tàu khu trục, có thể định vị bằng các radar trên bờ, hoặc có thể định vị từ các tàu kiểu Swatow qua đường chân trời.

CT: Trong bức điện của tàu Turner Joy gửi ngày 5-8-1964, mã ngày là 050511Z có viết: “Dự đoán đầu tiên có hai tàu PT tiến công. Tuy nhiên phải thừa nhận có hai nhân tố trái chiều với dự đoán này. Thứ nhất là không có hoạt động ECM (hoạt động điện tử – theo cách hiểu của ngài Chủ tịch) từ các tàu PT. Tuy nhiên, các tàu này lúc khởi động thường hạn chế phát tín hiệu radar. Thứ hai là không có biểu hiện sóng âm nào của các âm thanh từ ngư lôi ngay cả với những âm thanh đi ngang qua bên dưới. Tiếng động của bản thân tàu rất lớn”.

Lập luận cho rằng chính quyền đã và đang bị lừa dối

TNS Gore: Tôi không nghi ngờ lòng yêu nước cũng như sự chân thành của ngài Bộ trưởng. Nhưng tôi cảm thấy rằng, tôi đã bị lừa dối và người dân Mỹ đã bị lừa dối. Thật sự là bản trình bày ngài đã cung cấp không phù hợp với chứng cứ ngài đã đưa ra tại cuộc điều trần hôm nay. Thí dụ, tôi xin đọc từ bản trình bày đã ngài đã chuẩn bị: Ở trang 17: “Các tin tình báo nhận được từ một nguồn có tính bảo mật cao và hoàn toàn tin cậy cho biết Bắc Việt đang chuẩn bị để tiến công các tàu khu trục của chúng ta bằng hai tàu kiểu Swatow cùng với một tàu PT nếu tàu PT có thể chuẩn bị xong kịp thời”. Tôi không có nghi vấn gì với câu tôi vừa đọc, ngoại trừ việc đánh giá nguồn tin là bí mật và hoàn toàn tin cậy.

Câu thứ hai: “Cùng một nguồn tin cho biết, trong khi chúng ta vẫn tiếp tục giữ cam kết trong ngày 4-8, thì vụ tiến công đã diễn ra”. Ngài Bộ trưởng, ngài đã không cung cấp cho chúng tôi chứng cứ nào khác ngoài thông tin thu trộm để giải thích cho điều này.

BTQP: Cho phép tôi giải thích về điểm này trong hồ sơ. Có bốn bức điện, bức thứ nhất vào 5 giờ 01 phút từ Hải Phòng gửi đến tàu kiểu Swatow T146 cho thấy có hai đối tượng, là tàu chiến của đối phương đậu tại điểm mà tàu Maddox và Turner Joy đang đậu hoặc đậu cách đó khoảng ba nghìn thước Anh. Bức điện thứ hai nói rằng…

TNS Gore: Chỉ thị cho các tàu này chuẩn bị sẵn sàng tiến hành các chiến dịch quân sự.

BTQP: Chuẩn bị sẵn sàng cho các chiến dịch quân sự, nhắc tới tàu T146 và việc sử dụng tàu T133. Và bức điện thứ ba cho thấy các tàu kiểu Swatow đã báo cáo một máy bay địch rơi và tàu chiến địch bị thương, và bức điện này gửi 12 phút sau khi các tàu của chúng ta điện báo về họ đang bị tiến công.

Chứng cứ về vụ tiến công thứ hai là không đủ

BTQP: Thưa ngài Chủ tịch, tôi xin được đưa ra một hoặc hai bình luận ngắn gọn. Tôi không nghĩ rằng ngài sẽ muốn tôi mất thời gian vào lúc 6 giờ 25 phút chiều tối như thế này để đáp lại đầy đủ những lập luận của TNS Gore, vì tôi không đồng ý gần như với tất cả những bình luận đó, và tôi nghĩ rằng hồ sơ hoặc chứng cứ hôm nay tôi đã cung cấp sẽ cho thấy tại sao như vậy. Tuy nhiên, tôi muốn nói hai điểm, một là viên chỉ huy đội đặc nhiệm đã không nói rằng ông ta nghi ngờ về việc có xảy ra một vụ tiến công hay không, như TNS Gore lập luận. Ông ta rõ ràng đã không nói như vậy, và tôi nghĩ rằng…

TNS Gore: Thưa ngài Chủ tịch, tôi có thể hỏi ông ta…

BTQP: Vâng.

TNS Gore: Tôi đã giải thích rồi.

BTQP: Ông ta đã nêu ra câu hỏi về những chi tiết cụ thể. Đó là vào 1 giờ 27 phút.

Liệu việc tiết lộ thông tin có hủy hoại an ninh của Mỹ?

CT: Ngài Bộ trưởng, tôi không muốn gây rắc rối cho ngài, nhưng với tôi thật khó tin rằng, đã ba năm rưỡi sau sự kiện đó, việc tiết lộ thông tin vẫn quan trọng với an ninh của chúng ta hiện tại. Tướng Johnson nói chúng ta có thể thay đổi mật mã của mình chỉ trong vòng một giờ sau khi tàu Pueblo bị bắt giữ. Nếu chúng ta có thể làm điều đó, tôi không hiểu tại sao họ không thể làm như vậy.

BTQP: Thưa ngài Chủ tịch, tôi đã sẵn sàng đưa vấn đề này ra Ban giám đốc các cơ quan tình báo đối ngoại và trông cậy vào quyết định của họ. Đơn giản là, cộng đồng tình báo, các cơ quan tình báo cấp cao, các giám đốc các cơ quan CIA, DIA và NSA trong chính phủ chúng ta, đều nói rằng đó sẽ là một bước lùi nghiêm trọng của ngành tình báo. Tôi chấp nhận điều đó và cho rằng, chỉ có Ban giám đốc các cơ quan tình báo đối ngoại mới có thể xem xét và bác bỏ quyết định của chính họ, và tôi sẽ chuyển vụ việc này tới hỏi họ nếu quý ngài muốn.

CT: Ngài đã nêu ra một câu hỏi rất khó đối với tất cả chúng ta. Và tôi thấy dường như ngành hành pháp cho rằng nghị viện không có chức năng gì trong quan hệ đối ngoại và trong việc tiến hành chiến tranh, và rằng chúng tôi không nên làm gì mà bên hành pháp…

TNS Symington: Thưa ngài Chủ tịch, với chút kinh nghiệm trong lĩnh vực này, khi vấn đề về Vịnh Bắc Bộ xuất hiện, thực tế là tôi đã gợi ý về điều mà ngài Bộ trưởng đang đề xuất hôm nay, đó là chúng ta nên tìm ai đó hiểu về mật mã và đưa người đó đến Ủy ban. Tôi đã nói rằng, trước khi chúng ta quyết định làm gì tiếp, chúng ta có thể có một cách nhìn độc lập về những sự tổn hại có thể đối với an ninh quốc gia. Xin nói thẳng, đối với tôi, tôi không biết sự tổn hại đó là gì.

Tôi chỉ muốn nói rõ rằng, chúng ta đang mất ba đến bốn trăm binh sĩ  một tuần, và do đó, chúng ta cần thận trọng. Tôi đã đưa ra gợi ý đó. Đó là từ trước khi hai Bộ trưởng tham gia chương trình “Gặp gỡ báo chí” trên truyền hình ba bốn tuần trước đây. Nhưng tôi vẫn nghĩ đó là một gợi ý tốt, và nếu Bộ trưởng McNamara nói rằng ngài muốn đặt việc quyết định vào tay chúng ta, dựa trên những gì mà chúng ta được cộng đồng tình báo cho biết, tôi hy vọng ngài Chủ tịch và Ủy ban cân nhắc đề xuất đó, không phải như một vấn đề có tính quyết định mà là một vấn đề cần xem xét.

CT: Ngài TNS nói rằng ngài chưa đọc bản trình bày của ngài Bộ trưởng. Nhưng nếu ngài đọc bản trình bày đã được cung cấp đó, thì tôi chắc là, bất kỳ ai đều sẽ thấy là chúng ta đã bẻ mật mã của họ. Đó là một nguồn tin có tính bảo mật cao. Đó là điều duy nhất có ý nghĩa, và ngài Bộ trưởng đã nói điều đó nhiều lần rằng chúng ta đã bẻ mật mã của họ, và việc nhắc lại điều đó lần nữa đối với tôi dường như không bổ sung được thông tin gì mới, mặc dù cá nhân tôi rất nghi ngờ rằng, trong phần lớn các trường hợp họ đều dùng mật mã. Họ đã không làm như vậy ở Triều Tiên. Họ nói chuyện qua điện thoại.

TNS Gore: Thưa ngài Chủ tịch, đã gần 7 giờ tối.

CT: Tôi đề nghị chúng ta tạm ngừng cuộc điều trần hôm nay ở đây.

TNS Gore: Tôi gợi ý ngài và ngài Bộ trưởng thảo luận riêng về vụ này.

CT: Tôi đề nghị chúng ta tạm ngừng cuộc điều trần.

TNS Symington: Tôi lần thứ hai nêu đề nghị đó.

BTQP: Tôi đồng ý với đề nghị của ngài Chủ tịch.

Đến đó, vào lúc 6 giờ 50 phút chiều tối, Ủy ban tạm ngừng cuộc điều trần.

( Theo Tô Minh // Báo Nhân dân Online )

Advertisements
%d bloggers like this: