Trang chủ > Tình báo - Phản gián > Nhớ đồng đội: Bám trụ đất thép Củ Chi (Kỳ 3)

Nhớ đồng đội: Bám trụ đất thép Củ Chi (Kỳ 3)

Tháng Bảy 26, 2011

(Đất Việt) Năm 1971, Cụm tình báo H.63 được tuyên dương danh hiệu AHLLVTND, kèm theo lá cờ Đơn vị anh hùng còn có lá cờ Đơn vị 10 năm bám trụ Củ Chi để ghi nhận những hy sinh, mất mát to lớn của cụm ở nơi mà địch coi là trọng điểm của khu “tam giác sắt”.

>> Nhớ đồng đội: Ngón tay và những phím đàn (kỳ 1)
>> Nhớ đồng đội: Sẵn sàng chết cho lưới an toàn (kỳ 2)

“Củ Chi còn thì Sài Gòn mất”, tướng lĩnh quân đội Sài Gòn nghĩ như vậy. Để đánh bật lực lượng ta, Mỹ dùng chất độc hoá học diệt cỏ, làm rụng lá cây, kết hợp xe ủi đất hạng nặng phá sạch địa hình, đại bác ngày đêm bắn như “giã gạo”… Ác liệt là vậy mà cán bộ, chiến sĩ Cụm H.63 vẫn kiên quyết bám trụ để duy trì liên lạc. Điều làm Mỹ căm tức, dù chà đi xát lại đến không còn một cọng cỏ, thế mà đêm nào tín hiệu vô tuyến điện của Việt Cộng vẫn dội vào máy thu của chúng.

“Nhắn với má, tôi không chết”

Để hoàn thành nhiệm vụ thì phải chấp nhận hy sinh. Đó là điều không ai mong muốn, nhưng không tránh khỏi. Ai nấy đều xác định quyết tâm, kiên trì chịu đựng cuộc sống gian khổ, nguy hiểm, vui vẻ, lạc quan để làm nhiệm vụ. Chiến trường này không có trạm quân y cố định. Có lần có người bị thương không biết quân y đâu mà tìm. Mỗi chiều, chiến sĩ ta đột nhập vào ấp chiến lược Phú Hoà Đông công tác. Là người chỉ huy, tôi cứ đứng ngó theo cho tới nửa đêm, khi anh em trở về an toàn, mới yên tâm chui xuống địa đạo soạn chỗ nghỉ. Thỉnh thoảng anh em phải trở về trên cáng thương binh. Thật là đau lòng!

Các thành viên đội vũ trang H.63 trong phim tài liệu Cụm tình báo anh hùng của Điện ảnh Quân đội dựng năm 2001.

Mỗi trường hợp hy sinh đều khắc trong tôi kỷ niệm khó quên, nhưng tôi nhớ nhất và cảm động nhất là trường hợp của đồng chí Nguyễn Văn Ẩn, quê ở ấp Bến Đình, xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi. Năm 1968, Ẩn mới 21 tuổi, cấp bậc trung đội phó, chưa vợ con, nhà nghèo. Đêm ấy, chúng tôi vào ấp chiến lược Phú Hoà Đông công tác. Đến Ngã ba Ông Tới thì bị giặc phục kích bằng mìn định hướng Claymore. Sáu Ẩn, Năm Hải – những cán bộ đại đội của cụm, đi đầu đội hình, bị thương nặng. Từ phía sau, chúng tôi tràn lên nổ súng. Giặc bỏ chạy về đồn, anh em tháo võng ra khiêng hai thương binh ra bờ sông.

Đồng chí Năm Hải lớn tuổi hơn, vết thương nặng hơn, nên chỉ đến đó là trút hơi thở cuối cùng. Chiếc xuồng con đưa một liệt sĩ và một thương binh vội vã qua sông tìm trạm quân y, tinh thần còn nước còn tát. Theo rạch Mương Dâu, vào sâu trong cánh đồng xã An Tây. Ẩn quằn quại, có dấu hiệu hấp hối. Tôi bảo dừng lại và cùng với một chiến sĩ nữa khiêng Ẩn lên nằm trên một gò chòi. Dưới ánh trăng mờ cuối tháng, tôi nhìn người chiến sĩ thân yêu của mình lịm dần mà đành bất lực. Tôi chỉ biết thắt ga-rô, một lúc lại nới ra để tránh hoại tử, rồi thắt lại. Tôi lau mặt em, cúi sát xuống. Em thều thào khó khăn, đứt quãng: “Anh Tư ơi!… Một lát về gặp má tôi, anh đừng nói tôi chết… Nghe tôi chết má tôi buồn lắm… Nói tôi đi quân y vài bữa rồi…tôi…”.

Lực lượng giao thông viên góp phần quan trọng làm nên chiến công của cụm H.63 (Trong ảnh: Giao thông viên Lê Thị Ải ở nội đô).

Chiếc khăn rằn và khẩu AK còn lại

Đồng chí Khương, tiểu đội phó, quê xã Phú Hoà Đông, huyện Củ Chi, được phân công đưa một thư mật cho giao thông viên trong ấp chiến lược để chuyển cho điệp viên trong Sài Gòn. Thường anh em ra đi vào buổi chiều khi Mỹ rút quân, tối đột nhập ấp chiến lược đưa thư cho giao thông viên, xong quay về cứ trước khi trời sáng. Nhưng qua một ngày, rồi một ngày nữa vẫn chưa thấy Khương về. Phân công hai chiến sỹ vào ấp chiến lược tìm hiểu thì người ta nói Khương có vào ấp, có đưa thư rồi đi về ngay trong đêm.

Mất tích một chiến sỹ, là người chỉ huy, tôi rất băn khoăn. Suy nghĩ mãi, có thể nào Khương bị bom vùi, vì Khương ra đi chiều hôm trước thì mờ sáng hôm sau Mỹ đánh bom vào căn cứ trước khi đổ quân. Vậy là tôi cùng với đồng chí Út Hoa, Phó bí thư chi bộ đi tìm theo các hố bom. Đến một hố bom rộng hơn 10m, nhìn xuống thấy ruồi nhặng (thường gọi là con lằn xanh) bu một khoảng đất bên dưới. Tôi và Út Hoa bò lần xuống bới đất lên thì quả nhiên thấy một nòng súng tiểu liên AK, vài mảnh gỗ vụn báng súng và chiếc khăn rằn rách nát. Chiếc khăn này vợ quàng vội cho anh Khương trong một đêm đột nhập ấp chiến lược…

Vào giữa năm 1969, tổ giao thông võ trang đột vào ấp chiến lược Phú Hoà Đông nhận tài liệu. Tổ 4 người do Huỳnh Văn Thành, cán bộ trung đội làm tổ trưởng, 3 đồng chí nữa là Đạo, Re và Trai. Trai là chiến sỹ trẻ nhất, năm đó em mới 18 tuổi. Ra khỏi ấp chiến lược thì gần sáng, không về trên căn cứ Bến Đình kịp, tổ 4 người nằm lại trong hầm bí mật ấp Phú An. Chẳng may vừa hừng sáng, giặc Mỹ mở trận càn tại khu vực đó. Xe tăng của giặc cán bể nắp hầm. Hầm bị lộ. Bọn giặc bên trên kêu gọi đầu hàng. Bên dưới, một cuộc hội ý chớp nhoáng. Tổ trưởng Thành ra lệnh cho Trai: “Tao bung nắp ném lựu đạn, bọn giặc tất phải nằm xuống, sau đó tao ngồi tại miệng hầm dùng tiểu liên bắn áp đảo, mầy cầm tài liệu này chạy ra sông, bằng mọi giá về giao cho Cụm trưởng. Tụi tao sẽ chiến đấu đến viên đạn cuối cùng”.

Nhất trí như vậy, Thành chồm lên ném lựu đạn rồi bắn áp đảo mở đường máu, Trai chạy nhanh ra sông Sài Gòn. Re, Đạo phóng lên. Ba cây tiểu liên chống lại một đại đội quân Mỹ. Cuối cùng, Re và Đạo hy sinh, Thành bị thương nặng, gãy chân, giặc bắt đem về bót Phú Hoà Đông tra tấn. Thành cương quyết chịu đựng, không khai báo. Cuối cùng giặc đày anh đi nhà lao Phú Quốc.

còn tiếp…

Nguyễn Văn Tàu (AHLLVT, thương binh loại A, hạng 2/4)

baodatviet.vn

Advertisements
%d bloggers like this: