Trang chủ > Tình báo - Phản gián > Nhớ đồng đội: Sẵn sàng chết cho lưới an toàn (kỳ 2)

Nhớ đồng đội: Sẵn sàng chết cho lưới an toàn (kỳ 2)

Tháng Bảy 26, 2011

(Đất Việt)  Đêm chuẩn bị nổ súng chiến dịch Mậu Thân 1968, Tư Lâm được cử vào nội thành. Khi cùng giao thông viên Tám Kiên tới cửa ngõ Hóc Môn, Tư Lân bị quân cảnh địch bắt giữ do phát hiện ra dấu hiệu sốt rét. Đánh đập, tra khảo, không khai thác được gì, chúng đầy anh ra nhà lao Phú Quốc.

>> Ngón tay và những phím đàn

Mồng 3 Tết Mậu Thân, sau khi đi một vòng Sài Gòn quan sát tình hình, tôi trở về số 9 cư xá Việt Nam Thương Tín vùng Thị Nghè ngồi suy nghĩ để làm báo cáo đánh giá về cuộc tổng tiến công. Bỗng có tiếng gõ cửa, đúng tín hiệu đã quy ước với cô Tám Kiên, giao thông viên hoả tốc của Cụm H.63. Tiếng gõ cửa gấp gáp, báo hiệu sự bất thường.

Thân thương như ruột thịt

Cửa vừa mở, chưa kịp bỏ chiếc nón lá xuống, trên trán còn lấm tấm mồ hôi, Tám Kiên vội vã thông báo: Tư Lâm bị bắt tại Hóc Môn. Nghe tin Lâm bị bắt, tôi như đứt từng khúc ruột. Tư Lâm là trung đội trưởng đội bảo vệ của Cụm, hoạt động cùng tôi từ năm 1962. Lúc đó dù mới 21 tuổi, nhưng Lâm đã được giao làm cán bộ phụ trách giao thông mật của Cụm.

Đội vũ trang của Cụm tình báo H.63 anh hùng.

Tư Lâm tên thật là Phạm Văn Ria, người xã Phú Hoà Đông, huyện Củ Chi. Lên 6 tuổi, mẹ bị bệnh chết, cha bị giặc Pháp bắn, Ria được chị dắt lên Sài Gòn. Khi học hết lớp 5 thì nổ ra phong trào Đồng Khởi phá ấp chiến lược. Đồng bào Sài Gòn đổ về Củ Chi để mừng ngày ra đời của Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng miền Nam Việt Nam. Phạm Văn Ria, dù năm ấy còn rất trẻ đã xin chị nghỉ học trở về làng quê Phú Hoà Đông tham gia công tác cách mạng.

Năm 1961, Ria được tuyển mộ vào Cụm và được đổi tên thành Tư Lâm. Là một chàng trai rất dũng cảm, thông minh, làm việc rất tích cực và có tinh thần trách nhiệm, Tư Lâm thường tâm sự: “Mẹ tôi bị bệnh chết trong cảnh nghèo đói, cha tôi bị giặc bắn thả trôi sông. Tôi quyết đi theo cách mạng, đi theo các anh để trả thù cho cha, để không còn người bệnh chết vì thiếu thuốc, vì đói nghèo như mẹ tôi”. Suốt 6 năm trời cùng ăn ở, cùng chiến đấu chống càn, cùng nhau vượt qua bao nhiêu khó khăn, nguy hiểm. Hai anh em thương nhau như ruột thịt.

Chiều 30 Tết, phòng Tình báo Miền chỉ thị Tư Lâm vào Sài Gòn để phụ với tôi trong tổng tiến công. Tôi có trách nhiệm phổ biến tỉ mỉ thời gian địa điểm cho Lâm. Tôi vẽ ra giấy và cho Lâm vẽ đi vẽ lại nhiều lần để thuộc lòng nơi ăn ở của tôi. Chiều mùng 1 Tết, chúng tôi chia tay, tôi về Sài Gòn, còn Lâm thì do cô Tám Kiên dẫn đi bộ cùng cánh quân thâm nhập nội đô. Đến Hóc Môn, Tư Lâm và Tám Kiên tách đoàn để vào nhà một cơ sở tại Bình Mỹ. Nơi đây, Tư Lâm thay đổi trang phục, đầu tóc cho giống với người thành phố. Sau khi nghỉ 1 ngày, trưa mùng 3 Tết, hai người ra lộ lớn đi vào thị trấn Hóc Môn.

Đường vào thị trấn đã bị địch kéo rào ngăn lại, chỉ chừa một cửa nhỏ cho từng người đi qua dưới sự kiểm soát gắt gao của chúng.

Hai người đi cách nhau 5, 7 bước. Tám Kiên đi trước, qua được. Đến lượt Tư Lâm, thấy nước da mai mái, chúng nghi ngờ sốt rét do ở rừng lâu. Lập tức lấy một dung dịch hoá chất thoa lên 2 bàn chân, đôi quai chéo của dép cao su nổi lên, chúng biết Tư Lâm là Việt cộng vào thành. Bọn quân cảnh đánh dằn rồi lôi anh lên xe chở đi. Thấy vậy, Tám Kiên len lỏi vào đám đông trong chợ và nhanh chóng chạy về báo tin.

Cụm trưởng H.63 Tư Cang trong chiến khu An Thành năm 1972. (Ảnh do Bảo tàng TCII cung cấp)

Thà chết, không dẫn giặc về!

Theo nguyên tắc công tác nội thành, nếu một người trong tổ bị địch bắt thì số còn lại phải di chuyển ngay. Tư Lâm là cán bộ trung đội trong, nên biết rất rõ địa điểm chúng tôi đang trú. Do vậy, Tám Kiên đề nghị tôi nhanh chóng di chuyển, tạm rời bỏ chỗ này, không thể chần chừ được. “Đúng như em nói, nguyên tắc là phải an toàn lực lượng khi trong tổ có người bị bắt. Vậy em hãy đi đi!”, tôi nói, “Anh sẽ trụ lại đây. Anh tin Tư Lâm sẽ không dẫn giặc về bắt anh”. Mặc dù vậy, tôi vẫn đề phòng, lấy 2 quả lựu đạn còn trong bọc nilon từ dưới cống nước thải lên, sẵn sàng đối phó nếu địch đến.

Tám Kiên đi rồi, còn lại một mình, tôi cầm sẵn lựu đạn. Bỗng tôi nghe có người đi tới và gõ cửa. Cảnh giác, tôi cho tay vào chốt an toàn, sẵn sàng rút chốt. Bên ngoài im lặng một lúc rồi lại có tiếng gỗ cửa: “Thày Tư ơi, cho tôi xin tý lửa”. Thì ra là bà cụ ở căn nhà sát bên. Tôi thở phào, giấu vội lưu đạn rồi lấy cái bật lửa cho cụ. Đúng như xét đoán của tôi, Tư Lâm đã cắn răng chịu đựng mọi kiểu tra tấn dã man của địch trong ngày hôm đó và suốt mấy tháng tiếp theo mà không khai báo gì. Cuối cùng giặc đày Lâm ra nhà lao Phú Quốc với tội danh: “tù binh Cộng sản loại ngoan cố”. Mấy năm sau được cho ra đi làm lao động khổ sau, Lâm tổ chức một số anh em tù chính trị tìm cách vượt ngục.

Trong một buổi đi làm, anh em dùng cuốc xẻng đánh gục những tên lính canh rồi chạy ra rừng mong bắt liên lạc với du kích địa phương. Bị trực thăng vũ trang của Mỹ truy đuổi, đường vào rừng hơn 300m, anh em tù lại sức yếu, nên số đông không chạy thoát, đã bị trực thăng Mỹ bắn chết. Trong số người hy sinh hôm đó có Tư Lâm. Hoà bình lập lại, Tư Lâm được công nhận liệt sĩ.

Năm 2005, trong một lần ra thăm đảo Phú Quốc, tôi đến nhà tưởng niệm nhà lao Cây Dừa thắp nén hương, tâm sự cùng Tư Lâm: “Lâm ơi! Cụm tình báo H.63 chúng ta lập nhiều thành tích. Đó là nhờ em, nhờ lòng trung thành vô hạn của số cán bộ chiến sĩ dũng cảm hy sinh như em”.

còn tiếp…

Nguyễn Văn Tàu (Anh hùng LLVT, thương binh loại A, hạng 2/4)

qdndvn

Advertisements
%d bloggers like this: