Lưu trữ

Posts Tagged ‘Lam Sơn 719’

“Đáp số bí mật” của cuộc Tổng tiến công

Tháng Tư 15, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên.

Quá trình chuẩn bị về mọi mặt cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, vấn đề nan giải nhất là “bài toán” chuyển quân, vũ khí, hậu cầu… với khối lượng khổng lồ trên địa hình rừng núi Trường Sơn. Bộ đội Trường Sơn (BĐTS) đã có một “đáp số” cho Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương để vạch kế hoạch mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 toàn thắng. PV báo Biên phòng đã có cuộc phỏng vấn Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, nguyên Tư lệnh BĐTS, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ.

- Thưa ông, trước khi diễn ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, Mỹ xuất “nước cờ” cuối cùng, cùng với quân nguỵ Sài Gòn huy động 4 vạn quân mở cuộc hành quân “Lam Sơn – 719” để lập “hàng rào” chắn ngang đường chi viện Trường Sơn. Lúc đó chúng ta đã mở “hàng rào” này như thế nào?

- Hành lang Đường 9 (Quảng Trị), là trung tâm dự trữ hậu cần, súng đạn lớn cho toàn bộ chiến trường miền Nam. Mỹ sử dụng không quân ngăn chặn, ta không sợ. Nhưng âm mưu sử dụng bộ binh để cắt đứt tuyến đường chiến lược và lập “hàng rào” chắn ngang đường Trường Sơn, mới là vấn đề ta quan tâm nhất. Nếu như quân ta không đập tan cuộc hành quân “Lam Sơn – 719” thì không thể nào có những cuộc đánh lớn ở miền Nam được. Thực tế, đây là bước phiêu lưu đầy chủ quan của các chiến lược gia Hoa Kỳ. Bởi nơi đây là chiến trường rừng núi, không phải là đất “dụng võ” của lính Mỹ, Ngụy. Từ lâu, ta đã xác định đây là chính diện rộng nhất của tuyến chi viện bao gồm cả hành lang Đông – Tây Trường Sơn, một cửa mở quyết định nhất cho các chiến trường.

Do vậy, ta tập trung lực lượng chủ lực tinh nhuệ nhất để quyết chiến với địch. Bộ tư lệnh Mặt trận đường 9 – Nam Lào, đã sử dụng những sư đoàn đánh công kiên thọc thẳng vào đội hình của địch, kết hợp nghi binh lừa địch vào đúng “túi lửa” phòng không mạnh nhất của BĐTS. Lúc đầu, pháo phòng không, tên lửa của ta vẫn nằm im lìm dưới những tán cây rừng già, chỉ cho các loại súng đại liên, súng bộ binh ra đánh “kéo” máy bay đến . Nhận được chỉ thị của Bộ Tư lệnh chiến dịch và của anh Văn Tiến Dũng (lúc đó là Thượng tướng, Tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam), tôi điện ngay cho các đơn vị, binh trạm: “Phải nhử máy bay địch vào thật sâu, vào đúng vòng vây, sẵn sàng chủ động tiến công nhanh nhất vào đội hình của chúng. Sử dụng mọi vũ khí, phát huy mọi tầm hỏa lực, kiên quyết tiêu diệt, với khẩu hiệu: “Cứ cho nó đến, quyết không cho về”. Chờ khi nào có trên 30 chiếc bay vào “túi lửa” phòng không mới xả đạn. Bộ đội kiên trì nhử đến ngày thứ 6, địch huy động một đoàn 50 trực thăng ào ào đổ quân xuống. Lập tức ta phụt “túi lửa” ra tiêu diệt, chỉ 2 ngày “đã quét” hơn 100 máy trực thăng. Đây là trận đánh “đẹp” hiếm có trong lịch sử chiến tranh thế giới. Có thể nói, cuộc hành quân “Lam Sơn – 719” là cố gắng cuối cùng trong cơn “giãy chết” của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ.

- Đập tan ý đồ của Mỹ tại đường 9, BĐTS có những động thái gì nhằm đáp ứng yêu cầu về hậu cần ở các chiến trường miền Nam?.

-“Cánh cửa chốt” chiến trường Trường Sơn tại đường 9 được mở, BĐTS bắt đầu nâng cấp, mở rộng nhiều tuyến đường, cơ cấu lại tổ chức để ngang tầm với nhiệm vụ và đáp ứng sự lớn mạnh ở các chiến trường miền Nam. Lúc đó tôi có suy nghĩ, thắng lợi đường 9 đồng nghĩa với thời cơ. Chúng ta phải có những bước chuẩn bị trước khi ký Hiệp định Pari về ViệtNam. Muốn đánh lớn ở miền Nam thì các lực lượng vận tải phải “ngang tầm”, nhưng BĐTS của chúng tôi đã làm “vượt tầm”. Theo chỉ đạo của Bộ, chỉ cần sử dụng trung đoàn xe vận tải là ngang tầm rồi, bấy giờ, tôi đã cho thành lập hai sư đoàn xe độc lập. Lúc đó, có nhiều đồng chí lãnh đạo ở Trung ương không đồng tình cách làm của tôi. Nhưng tôi nghĩ, mình là tư lệnh, phải có gan làm và có gan chịu trách nhiệm. Phải thực hiện kế hoạch trước một bước. Sau đó, Tổng Bí thư Lê Duẩn, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp rất ủng hộ và phê chuẩn ngay. Do đã chuẩn bị kỹ, BĐTS bỏ cách đi theo từng cung, từng binh trạm. Nhằm rút ngắn thời gian tối đa công tác vận tải, BĐTS tổ chức hành quân, vận chuyển theo đội hình các đơn vị xe chạy thẳng vào chiến trường luôn.

- Còn hệ thống thông tin liên lạc, BĐTS tổ chức hoạt động như thế nào để luôn đảm bảo công tác chỉ huy từ Bộ Tổng tư lệnh – Bộ Tư lệnh – chiến trường, đạt hiệu quả nhất?

- BĐTS đã xây dựng hệ thống thông tin đường tải 3, mạch nối từ Bộ Chính trị đến chiến trường. Hệ thống này luôn thông suốt, đảm bảo công tác chỉ huy, chỉ đạo và trông tin liên lạc tại các chiến trường.

* Tết Quí Sửu (1973) Tổng Bí thư (TBT) Lê Duẩn vào làm việc với Bộ Tư lệnh BĐTS tại Quảng Bình, có phải vì ông đã “bạo gan” cho thành lập các sư đoàn xe độc lập?.

- Không phải đâu! TBT đi tìm hiểu thực tế ở chiến trường Trường Sơn, để cùng Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương vạch kế hoạch giải phóng miền Nam.

- Ông có thể nói rõ hơn?

- Tại sở chỉ huy Bộ Tư lệnh, tôi báo cáo với TBT Lê Duẩn về tình hình vận tải trên toàn bộ chiến trường từ: Trị – Thiên, Khu 5, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, tình hình tuyến đường Đông-Tây Trường Sơn, hệ thống thông tin liên lạc. Suốt một giờ, TBT ngồi nghe chăm chú, sau đó, hỏi lại tôi: “Một sư đoàn bộ binh đi từ Quảng Bình vào đến Lộc Ninh (tỉnh Bình Phước), mất hết mấy ngày?”. Tôi trả lời: “Báo cáo TBT, một trung đoàn xe chở một sư đoàn bộ binh đi từ Nam Quảng Bình vào đến Lộc Ninh mất 8 ngày”.

TBT hỏi tiếp: “Vậy, một quân đoàn kèm theo cơ sở vật chất, súng đạn, binh khí kỹ thuật đi hết bao nhiêu ngày?” Tôi trả lời ngay: “Một sư đoàn xe vận tải chở gọn một quân đoàn đi thẳng vào Lộc Ninh, cũng mất thời gian 8 ngày”. Tôi vừa nói xong, TBT vui hẳn lên, ông dùng tay đập xuống bàn, nói rất to: “Thế đã rõ. Đáp số đây rồi”. Lúc đó tôi không dám hỏi “Đáp số” là cái gì. Sau này tôi mới biết tính chất chiến lược cực kỳ quan trọng của cuộc làm việc đó. Bây giờ tôi mới dám nói, chứ lúc đó không ai dám nói đâu. BĐTS đã có “đáp số” cho Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về việc di chuyển quân chủ lực cơ động, bảo đảm hậu cần… từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam được một cách nhanh nhất (trước đây bộ đôi hành quân từ miền Bắc vào Nam mất 6 tháng). Trên thế giới chưa có cuộc chiến tranh nào tổ chức được những sư đoàn xe độc lập như ta. Đây là điều làm cho đối tượng bất ngờ về sức cơ động của quân ta.

- Được biết, tháng 2 – 1975, Thượng tướng Văn Tiến Dũng trực tiếp vào kiểm tra chiến trường. Lúc đó, ông có được làm việc với Tổng Tham mưu trưởng không?

- Đoàn của anh Dũng đi vào chiến trường mang mật danh “Đoàn A.75”, đã làm việc với tôi tại Hiền Lương (Quảng Trị). Tôi báo cáo với đoàn công tác của Bộ về nhiệm vụ vận tải lương thực, vũ khí và di chuyển quân. Đặc biệt đã chuẩn bị bốn trung tâm dự trữ hậu cần lớn: Trị – Thiên, Khu 5, Tây Nguyên, Nam Bộ, đủ sức mở cuộc tổng tiến công lâu dài. Lúc đó, anh Dũng chỉ tiết lộ sẽ đánh mở màn chiến dịch Tây Nguyên. Tây Nguyên thì rộng lớn, bản thân tôi là tư lệnh nắm trong tay 8 sư đoàn xếp hạng thiện chiến, vì bí mật quốc gia cũng không được biết mũi đánh “điểm huyệt” là chỗ nào.

Làm việc xong, anh Dũng đi chiếc xe riêng của tôi, ký hiệu “TS -1” vào chỉ huy sở ở Tây Nguyên. Dọc đường đi, anh em các đơn vị thấy chữ “TS – 1”, nghĩ là xe của thủ trưởng Nguyên, cứ dạt ra ưu tiên đi trước. Bộ đội, thanh niên xung phong trên đường đâu có biết đó là vị tướng thay mặt Bộ Chính trị và Bộ Tổng tư lệnh chỉ huy trực tiếp ở mặt trận. Anh Dũng vào kiểm tra xong, điện thoại về cho tôi: “Đoàn đã vào đến nơi, kiểm tra tất cả các thứ rồi. Chuẩn bị chiến dịch như thế này thì chưa đánh đã biết thắng. Đầy đủ lắm! Chưa có chiến dịch nào mà chuẩn bị qui mô lớn như thế này…”

Hải Luận (Thực hiện)

Bại tướng Dư Quốc Đống

Tháng Tư 10, 2011 Phản hồi đã bị khóa

QĐND – Trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ-Quân đội Sài Gòn, ngoài lực lượng chính là Quân đoàn l-Quân khu l, giới chóp bu Sài Gòn còn tăng cường hai lực lượng được xem là “thiện chiến” nhất trong quân lực Việt Nam cộng hòa là Sư đoàn Thủy quân Lục chiến và Sư đoàn dù. Tư lệnh Sư đoàn dù lúc đó là Trung tướng Dư Quốc Đống.

Dư Quốc Đống. Ảnh tư liệu

Dư Quốc Đống sinh năm 1932 tại tỉnh Rạch Giá. Y cầm súng theo thực dân Pháp từ khi còn rất trẻ. Tốt nghiệp Trường Sĩ quan Đà Lạt năm 1952, Đống được điều về Tiểu đoàn 4 Vệ binh Sơn cước đóng tại Plei-cu. Một năm sau, y tình nguyện xin về Tiểu đoàn 1 nhảy dù.

Con đường làm tay sai hết Pháp đến Mỹ của Dư Quốc Đống chủ yếu trong lực lượng “mũ nồi đỏ” khét tiếng gian ác từng gây nhiều tội ác đối với đồng bào ta. Từ năm 1953 đến cuối năm 1972, Đống lần lượt leo qua các chức Đại đội trưởng, Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn trưởng, Tư lệnh Lữ đoàn… đến Trung tướng, Tư lệnh Sư đoàn dù. Dư Quốc Đống từng tham gia chiến dịch tảo thanh lực lượng Bình Xuyên năm 1955, từng nhiều lần đụng độ với Quân Giải phóng trong trận Ia Đrăng, Tết Mậu Thân 1968, Đồi 1416 ở Đắc Tô, cuộc tiến quân sang Cam-pu-chia… và cuộc hành quân Lam Sơn 719 năm 1971.

Như vậy, cuộc đời binh nghiệp làm tay sai cho ngoại bang của Đống chủ yếu ở Sư đoàn dù, lực lượng “con cưng” của chính quyền Sài Gòn, được trang bị hiện đại, được quan thầy Mỹ tuyển chọn nhân sự và đào tạo bài bản, kỹ lưỡng. Vì có “thâm niên” nhất trong lực lượng, lại có vóc dáng cao lớn, thêm tính cách biết giữ chữ tín theo kiểu giang hồ nên y được cấp dưới vì nể. Nói một cách công bằng, Dư Quốc Đống được Pháp và Mỹ đào tạo cơ bản về chiến thuật của lực lượng dù, có kinh nghiệm trong hành quân tác chiến càn quét và đối phó với lực lượng Quân Giải phóng. Nhưng tại cuộc hành quân Lam Sơn 719, Sư đoàn dù do y chỉ huy đã bị Quân Giải phóng quần cho tơi tả.

Trong “Lệnh hành quân Lam Sơn 719” của Sư đoàn dù ký ngày 3-2-1971, Dư Quốc Đống ra lệnh cho thuộc cấp: “Nỗ lực chính trong cuộc hành quân hỗn hợp không lực theo trục DO, nhằm cắt đứt hệ thống tiếp vận của Công sản Bắc Việt, tìm diệt địch và phá hủy tối đa các quân dụng kho tàng của chúng trong căn cứ 604”. Hướng hành quân cũng được Đống chỉ rõ: “Xuất phát từ căn cứ Hàm Nghi, hành quân bộ theo dọc Đường 548 (Đường 9) và trực thăng vận xuất nhập các khu vực mục tiêu A Lưới, A Sầu, thiết lập các căn cứ hành quân và căn cứ hỏa lực, tổ chức hành quân tuần thám, lùng diệt địch, phá hủy các kho tàng trong khu vực trách nhiệm”.

Cuộc hành hành quân của Sư đoàn dù cũng được Đống chia làm 4 giai đoạn:

Giai đoạn l (Từ ngày 30-1 đến 7-2 năm 1971): Di chuyển toàn bộ sư đoàn nhảy dù và các đơn vị tăng phái đến phối trí xung quanh khu vực căn cứ Hàm Nghi.

Giai đoạn 2 (từ 8-2 đến 14-2): Sử dụng chiến đoàn đặc nhiệm làm nỗ lực chính, xuất phát từ Tà Bạt, tiến quân dọc theo Đường 548 (Đường 9) về phía tây, giao tiếp và hỗ trợ cho 1 tiểu đoàn nhảy dù trực thăng vận chiếm mục tiêu A Lưới (Bản Đông) và thiết lập căn cứ hỏa lực tại đây. Đồng thời Lữ đoàn 3 nhảy dù được trực thăng vận cấp tiểu đoàn chiếm các khu vực cao điểm 30-31 (điểm cao 450-543) phía bắc Đường 9 và thiết lập các căn cứ hỏa lực để hỗ trợ mặt Bắc cho cánh quân cơ giới, chiến đoàn đặc nhiệm.

Giai đoạn 3: Củng cố các căn cứ hành quân và căn cứ hỏa lực tổ chức hành quân lục soát, tiêu diệt lực lượng địch, khám phá và tiêu hủy tới mức tối đa các quân dụng cũng như kho tàng của địch trong phạm vi trách nhiệm.

Giai đoạn 4: Đoạn lệnh hành quân sẽ ban hành sau (sau này thành cuộc tháo chạy vội vã của Sư đoàn dù cũng như toàn bộ lực lượng địch tham chiến).

Tổ chức biên chế của Sư đoàn dù lúc này rất mạnh, gồm 9 tiểu đoàn thuộc 3 lữ đoàn dù, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh… đó là chưa kể các lực lượng của Quân đoàn 1 tăng cường cho Đống gồm Lữ đoàn 1 thiết kỵ, Tiểu đoàn 44 pháo binh (155mm) và tiểu đoàn 101 công binh chiến đấu.

Nhưng, cuộc hành quân hoang tưởng Lam Sơn 719 do quan thầy Mỹ sắp đặt bị thất bại thảm hại. Toàn bộ lực lượng của cái gọi là Cuộc hành quân Lam Sơn 719 trong đó có Sư đoàn dù của Dư Quốc Đống đã lọt vào trong thế trận giăng sẵn của quân và dân ta. Thất bại của chúng là điều không tránh khỏi.

Sáng 9-2-1971, 2 đại đội của chiến đoàn đặc nhiệm dù tại chốt 351 cầu Cha Kỳ bị Quân Giải phóng tiêu diệt. Cùng ngày, Tiểu đoàn dù 2 bị tập kích ở Xê Nam.

Từ ngày 11 đến ngày 13-2, Trung đoàn 64 thuộc Sư đoàn 320 Quân đội nhân dân Việt Nam liên tiếp tiến công khu vực điểm cao 456 và Đồi Không Tên, diệt 3 đại đội của Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn dù 6 (Lữ đoàn dù 3) chốt giữ căn cứ 31 (điểm cao 543), cách Bản Đông 7km về phía bắc.

Trưa 25-2, bằng trận tiến công hiệp đồng binh chủng, Trung đoàn 64 đã làm chủ căn cứ 31, tiêu diệt Tiểu đoàn 3 dù, bắt sống Đại tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 dù và toàn bộ ban tham mưu lữ đoàn.

Ngày 12 đến ngày 17-3, Quân Giải phóng đại phá Bản Đông do 1 lữ đoàn dù và 2 thiết đoàn quân đội Sài Gòn chốt giữ. Lữ đoàn dù 3 bị xóa sổ.

Ngày 18-3, do bị thất bại nặng nề, quân đội Sài Gòn rút khỏi Bản Đông. Cuộc rút quân trở thành một thảm bại hỗn loạn. Binh sĩ vứt bỏ vũ khí chạy cắt rừng hòng thoát thân nhưng cuối cùng trúng vào các ổ phục kích của Quân Giải phóng.

Cuộc hành quân Lam Sơn 719 là cuộc hành quân lớn nhất của Liên quân Mỹ-ngụy trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng, khi viết về cuộc đời cầm súng làm tay sai cho hết Pháp và Mỹ của Dư Quốc Đống, đám đàn em của y và thậm chí người cháu gọi Đống bằng cậu ruột là Trần Thái Văn hiện sống ở Ca-li-phoóc-ni-a (Mỹ) không một lời nhắc đến cuộc hành quân này. Đây là một trong những thất bại nặng nề nhất trong 26 năm khoác áo lính của Dư Quốc Đống mà thuộc hạ cũng như y muốn quên đi. Cũng có vài kẻ thân tín của y cho rằng, việc đặt Dư Quốc Đống và Lê Nguyên Khang, Trung tướng Tư lệnh Sư đoàn Thủy quân Lục chiến dưới quyền của Trung tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư lệnh Quân đoàn 1 – Vùng 1 chiến thuật là một sai lầm của Tổng thống Thiệu, vì hai viên tướng vốn ngổ ngáo lại quen được chiều chuộng rất coi thường Lãm. Bằng chứng là mặc dù toàn bộ Sư đoàn Thủy quân Lục chiến tham gia cuộc hành quân, nhưng Lê Nguyên Khang giao cho cấp phó chỉ huy, còn mình thì nằm chơi ở Sài Gòn… Sau này, mâu thuẫn giữa Đống và Lãm được bộc lộ trong kế hoạch phòng thủ Bản Đông. Chuyện đó có chăng cũng chỉ là một nguyên nhân nhỏ để bào chữa cho thất bại cay đắng của Đống và Sư đoàn Dù của y.

Trong hồi ký “Sư đoàn nhảy dù Việt Nam và cuộc hành quân Lam Sơn 719” của Trung tướng hồi hưu Giêm B.Vốt-tơ (James B.Vaught), nguyên Cố vấn trưởng Sư đoàn dù trong cuộc hành quân này cũng rất ít khi nhắc đến Đống. Sau khi ba hoa rằng mặc dù bị đối phương bao vây quyết liệt, nhưng cuối cùng nhờ tài cố vấn của mình, Sư đoàn dù đã “triệt thoái có quy củ khỏi đất Lào thành công”, Vốt-tơ chỉ nhắc Đống một chút, nguyên văn như sau: “Tướng Đống trong buổi họp tham mưu đã nói với toàn bộ các đơn vị trưởng trong Sư đoàn dù rằng, từ nay tôi được phép đề nghị các quyết định hành quân chiến thuật cần thiết và mọi người phải tuyệt đối thi hành. Và kể từ ngày đó tướng Đống không bao giờ phản đối bất cứ một đề nghị nào của tôi đưa ra…”.

Không biết Vốt-tơ khen hay… chửi Đống, xem vị tướng này như là bù nhìn dưới quyền điều hành của các cố vấn Mỹ.

Cuối năm 1972, Dư Quốc Đống rời chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn dù để thay Ngô Du làm Trưởng đoàn thương thuyết của Quân đội Sài Gòn trong Ủy ban liên hợp Quân sự bốn bên.

Tháng 11-1974, Dư Quốc Đống được Tổng thống Thiệu cử giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 3-Quân khu 3 bao gồm Sài Gòn và các tỉnh phụ cận. Sau đó 3 tháng, y phải từ chức khi để mất Phước Long vào tay Quân Giải phóng. Ngày 29-4-1975, khi chế độ Sài Gòn trong cơn hấp hối, Đống cùng gia đình vội vã rời khỏi Việt Nam sang tiếp tục sinh sống những ngày tàn cuối đời ở Mỹ. Ngày 22-4-2008, Dư Quốc Đống chết ở một Viện dưỡng lão ở Ca-li-phóoc-ni-a.

Khôi Nguyên (Theo báo chí nước ngoài)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.